Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Mây hồng phận bạc

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Trời về khuya, miền biển thường vang vọng những tiếng sóng rì rào như những lời ru thì thầm thiết tha của biển, những âm thanh vi vút tưởng chừng như lời thánh thót yêu đương của những hàng thông dài thẳng tắp, ngoài xa xa phía chân trời từng chấm đèn nhỏ li ti đang di động, có lẽ là những chiếc tàu thuyền đi đánh cá về đêm… Rằm trung thu năm nay sao buồn và ảm đạm hơn mọi năm, Mây Hồng cũng chẳng buồn mua sắm lồng đèn con cá, con cua gì cho hai đứa con trai của nàng…Trên bầu trời đầy sao với vầng trăng ngọt ngào soi sáng trần gian sao lòng nàng vẫn thấy tối tăm như đêm 30 đen tối, nàng vừa trải qua một cơn giông tố nặng nề trong cuộc sống lứa đôi…xuyên qua ánh trăng dịu hiền một chấm đèn phi cơ đang bay dần về hướng nàng, Mây Hồng ước gì mẹ về trong chuyến bay này nhỉ ? Ngồi lặng hồi lâu đưa tiềm thức về miền dĩ vãng xa xưa …… sáu năm qua từ khi xãy ra những biến đổi trong gia đình, Mây Hồng lại mong có mẹ, có các anh bên cạnh cho bớt cô đơn…đời người con gái mười hai bến nước trong nhờ, đục chịu, nàng vô phần bạc phước, hai lần sang ngang đều rơi vào bến đục – tự nhiên hình ảnh của những ngày xuân xanh sống lại trong tấm trí nàng…giữa lòng đất nước bao la, người thì đông nhưng tìm một người thân yêu không có, nàng thở dài và chán nản cho tình đời, tình người, chán ngán loại người đàn ông đoản hậu vong tình mà cuộc đời nàng phải gặp suốt gần 10 năm qua …
Nàng nhớ lại thuở còn rất bé mà mẹ cha lại chia tay nên Mây Hồng phải khổ, Mẹ đi buôn bán suốt ngày ngoài chợ đến chiều tối mới về, Mây Hồng ở nhà thường bị anh hai bắt nạt và đánh đòn – Sinh trưởng trong một gia đình nho giáo, ông ngoại là một giáo chức thông thái về hưu, bà ngoại con gái một thương gia giàu có, chữ nghĩa tinh thông, văn chương thi phú dạt dào – Cha là một sĩ quan quân lực VNCH, thêm nghề tay trái ảo thuật tài tình, mẹ là một người phụ nữ đảm đang, có học và lại nối nghiệp bà ngoại, văn thơ từ lứa tuổi trăng tròn… Ngày hai buổi Mây Hồng cắp sách đến trường, những mong sau này trả hiếu mẹ cha. Dạo đó chinh chiến lan tràn trên quê hương Việt Nam của nàng, máu và nước mắt đã tràn ngập cái xứ sở thân yêu này, Cha đã vào tù khi Mây Hồng vừa tròn 4 tuổi, một thân mẹ cưu mang săn sóc 4 anh em trong biển người gian ngoa lừa đảo của một cuộc sống mới đổi thay – Rồi năm tháng cũng qua đi với những gian nan vất vả, Mây Hồng đã trở thành một cô gái xinh đẹp dễ thương, có lẽ vì hoàn cảnh chiến tranh, thiếu tình thương của cha cùng với những bất công của xã hội, Mây Hồng thường ít chuyện trò với ai, từ đó nàng trở nên lầm lì, sống khép kín trong nhà với mẹ, phụ mẹ trong việc buôn bán vải và thuốc tây hàng ngày ngoài chợ cho mau chóng qua đi thời gian vô nghĩa…
Định mệnh vẫn là một sợi dây vô hình đưa con người vào cạm bẫy, 16 tuổi Mây Hồng nào biết gì là tình yêu ? Phong, một cậu thanh niên trong lứa tuổi ăn chơi, con nhà khá giả, Cha đã ra nước ngoài, cậu sống với mẹ và các chị em gái trong cảnh sống một gia đình buôn bán quần áo vải sợi – Tình cảm và lòng sôi nổi trong tình yêu Phong đã làm rung động trái tim non nớt nhưng lạnh lùng của Mây Hồng, từ đó hai người có những buổi hẹn hò tha thiết, mẹ Hồng biết được đã hết sức cản ngăn vì con gái mình còn quá nhỏ, đường đời chưa từng nếm trải mà chông gai thì ai biết đâu mà lường mà tránh – Nhưng với tính tình gan lì và cương quyết, Phong bất chấp sự ngăn trở của mẹ Mây Hồng, đôi lần thách thức và nghiễm nhiên Phong đã chiếm được tình cảm của Mây Hồng, người con gái ngây thơ của một thời áo trắng học trò chưa từng vướng bụi yêu đương.
Một hôm Phong tìm đến nhà Mây Hồng , đứng ngoài đường nói vọng vào :
- Mây Hồng ơi…mẹ em có ở nhà không ? đừng cho bả thấy, ra đây đi , anh chở em đi mua sắm một ít vật dụng cần thiết cho đám cưới chúng ta, anh đặt sẵn nhẫn và bông cho em rồi đây…
Mây Hồng vội vã chạy ra đường, nhắc khéo Phong :
- Sao anh ồn ào vậy, anh không biết là mẹ em không chấp nhận sao ? chuyện này chắc phải chờ thêm một thời gian nữa để em thuyết phục mẹ, thôi anh về đi, mẹ em đang ở trong nhà, coi chừng mẹ em thấy anh đó !
- Kệ bả, Phong trả lời, đúng lúc đó mẹ Mây Hồng bước ra đường – Bà nói với Phong :
- Cậu Phong à ! Con Mây Hồng còn quá nhỏ, nếu cậu thật tình thương nó hãy chịu khó đợi thêm vài ba năm nữa, tôi không muốn con gái tôi bước theo con đường của tôi, lấy chồng sớm thì khổ sớm mà thôi, cậu nghe lời tôi đi vì nó còn đang đi học, vài năm sau nó ra trường cũng không muộn đâu cậu …
Phong ngần ngừ :
- Thưa cô, cháu sắp đi nước ngoài, cháu muốn cô đồng ý cho cháu và Hồng được thương yêu nhau, mai mốt cùng ra nước ngoài với cháu.
- Ôi, chuyện đó còn lâu mà cậu, hơn nữa tôi nhận thấy cậu chưa chững chạc để lập gia đình, cậu ăn chơi bay bướm tôi còn nghe danh, bao giờ cậu tu chỉnh đàng hoàng đi rồi hãy tính chuyện lấy vợ…
Câu nói quá thẳng thắn của mẹ Hồng làm chạm tự ái Phong, cậu ta tức giận trả lời thẳng vào mặt mẹ Mây Hồng :
- Được rồi, cô chống mắt mà coi, cô giữ con gái cô được bao lâu ? Cháu thách cô đó…
Nói rồi Phong tức tối bỏ đi còn Mây Hồng thì mặt ủ mày châu, dàu dàu không nói gì ! suốt thời gian sau, dường như Phong không lên nhà Hồng tìm kiếm nữa, nhưng lại gọi phone nhắn nàng đến những chỗ hẹn hò – quán ăn, quán nước, nhà của bạn bè thân …rất nhiều lần Mây Hồng đi như thế mẹ nàng phải bỏ thì giờ đi tìm kiếm cả mấy giờ liền – Hồng đã làm khổ cho mẹ nàng không ít suốt khoảng thời gian quen biết với Phong…
Sau đó 2 tháng một đám cưới âm thầm diễn ra trong gia đình Phong vì mẹ Hồng nhất định không tham dự – Không phải mẹ Hồng quá khắt khe nhưng vì nhìn thấy chàng rể là một thanh niên ăn chơi e sau này con gái phải khổ – Mây Hồng thì tin tưởng vào tình yêu của Phong, sau đám cưới nàng xin phép mẹ rồi thu dọn về nhà Phong sống chung với mẹ chồng và các chị em chồng – một gia đình người Huế lạnh nhạt, không ai biết vui vẻ tử tế với nàng – Còn riêng Phong sau thời gian chung sống đã lộ ra bản chất ăn chơi quá độ, đôi lúc trở thành côn đồ, bạc tình, bạc nghĩa – Mây Hồng trở thành một bóng mờ lặng câm chịu đựng không dám than van một lời vì tự mình chọn lựa, mẹ Hồng mà nghe được sự thể chỉ khổ thêm mà thôi …
Sáu tháng sau ngày thành hôn, Mây Hồng đã mang thai 2 tháng – một việc mà Mây Hồng không mong mỏi bao giờ khi biết quá rành bản chất của Phong – Từng giọt lệ âm thầm hàng đêm trong căn phòng lặng lẽ đã khiến nhan sắc u sầu, tái tê gan ruột từng cơn – Bỗng một ngày gia đình Phong nhận được giấy bão lãnh của người cha từ Mỹ gởi về, Mây Hồng đã cương quyết ở lại quê nhà với mẹ, để yên cho Phong làm hồ sơ ra đi cùng gia đình bên Phong mà không hề cản trở – ngày ra đi Phong có đem theo một tờ hôn thú photocopy giữa hai người, còn hôn thú chánh thì Mây Hồng cất giữ từ bấy lâu nay – Hy vọng dứt được chuyện tình với Phong từ đây, bào thai còn nhỏ Mây Hồng chấp nhận chờ ngày bé ra đời, đã có mẹ an ủi chăm sóc Mây Hồng không phải lo sợ điều gì nữa …
Mẹ nàng cũng có giấy tờ bão lãnh từ hai anh trai của Hồng đã vượt biên từ năm 1983, đang ở Mỹ, hồ sơ cũng ghi rõ bão lãnh mẹ và hai em, Mây Hồng và Biển Hồng, em trai út của nàng – Ngày phỏng vấn là một nỗi đau chết lặng tâm tư mẹ và Mây Hồng, người Mỹ bảo rằng : Con gái bà có chồng bên Hoa Kỳ, chỉ đi với diện chồng bão lãnh chứ không đi được với bà hoặc bất cứ diện nào khác ! ông ta đưa ra một tờ hôn thú photocopy và một hồ sơ của Phong gởi về bão lãnh Mây Hồng … Trước sự tình xãy ra mẹ Hồng chết lặng, không đi ở lại tranh đấu cho Mây Hồng cùng đi thì biết đâu chẳng có kết quả gì mà kẹt lại luôn cả 3 mẹ con, Biển Hồng lại đang tuổi phá phách tập tành ăn chơi phá của, mẹ Hồng cắn răng ra đi vì tương lai của thằng con út, bỏ Mây Hồng ở lại quê nhà bơ vơ côi cút ! Nước mắt tuôn tràn giờ phút chia tay :
Vẫy tay chào giã biệt
Con ở lại quê hương
Mẹ lên đường sang Mỹ…
Giọt nước mắt mẹ rơi
Nghẹn ngào con nức nở
Ôm hôn con lần cuối
Phi cơ cất cánh rồi !
Trên bước lãng du
Ruột đau từng đoạn
Thương con thơ dại
Giữa chốn bụi hồng
Một thân trơ trọi !
Tuyết rơi đất khách đau lòng mẹ
Sương phủ đầu xanh trẻ xót xa
Vầng trăng soi mái tây lầu
Vầng trăng soi thấu nỗi sầu trong ta ?
Bao năm xa cách quê nhà
Bao năm biệt xứ lệ sa từng dòng
Đêm đêm đối bóng điện hồng
Đêm đêm gục mặt nghe lòng thương đau
Làm sao ngăn được giọt châu
Làm sao ngăn được bể dâu cuộc đời ?!!!
Mây Hồng đã cương quyết ở lại quê hương một mình với đứa con thơ vừa tròn 3 tuổi, nàng đã chán ngán người chồng như Phong nên không có ý định tiến hành hồ sơ Phong bão lãnh … Trong cuộc sống đảo điên chợ đời trăm ngã, Hồng đã quyết không lập gia đình ở vậy nuôi con dù bão tố vây quanh, dù cô độc mọi bề – nhưng định mệnh lần thứ hai đưa đẩy, một chuyện tình nữa tưởng như rất đẹp đến cho cuộc đời bất hạnh của nàng, Mây Hồng lặng lẽ nuôi con, hàng ngày chăm sóc bán buôn cho qua ngày buồn tẻ, “ VI VÂN coffe” là quán cà phê của nàng, một năm trước khi vừa mở quán đã có một chàng trai theo đuổi mơ mộng chữ tình yêu, Mây Hồng không chấp nhận vì không muốn khổ thêm lần thứ hai và vì trách nhiệm nặng nề với đứa trẻ thơ vô tội mà nàng đã tạo ra dù trong niềm ân hận vô biên…người thanh niên ấy chí tình chờ đợi sự đổi thay trong tâm hồn nàng để bước tới hôn nhân – hoàn cảnh cô đơn đôi lúc gặp tai nàn trong cuộc đời cô phụ, mà mẹ cha, anh em , các cậu đều đã xuất ngoại từ lâu, vì nỗi cô đơn cùng cực Mây Hồng đã thuận bước thứ hai, nghĩ là sẽ được bù đắp – Cường là cái tên giả mà cậu đã dùng khi làm quen với Hồng, cậu đã nói dối cả về cha mẹ, về bà nội, nơi cư ngụ và công ăn việc làm của cha mẹ cậu khi mẹ Hồng dò hỏi – cậu không thật ngay từ phút đầu quen biết, con người như thế nhưng cả gia đình Hồng đâu hay biết cứ lầm từ những ngôn từ tỏ ra hiền lành của cậu ta – Lúc đầu cậu ta cũng tương đối tốt, năn nỉ nhiều lần đòi tự vận Mây Hồng mới chấp nhận tình yêu với Cường, hàng xóm ai cũng nói rằng Cường tốt số, Mây Hồng xinh đẹp tuy rằng gái một con nhưng gia đình toàn ở nước ngoài từ mẹ, cha, hai anh, em và các cậu – Mây Hồng lại hiền và ít nói, khôn ngoan trong xử thế giao tiếp mọi người – Thấy Cường là người có tấm lòng khi đứa bé Tùng Vũ ( con trai của Hồng) ốm đau, Cường đã hết lòng chăm sóc không ngại thức khuya, dậy sớm vào bệnh viện chăm nom, Tùng Vũ khi sinh ra mắc phải chứng bệnh kinh phong nên thường xuyên bị giựt cả người khi lên cơn sốt – Mẹ và Mây Hồng đã cực khổ biết bao nhiêu từ ngày bé Tùng Vũ ra đời, lúc mẹ đi nước ngoài rồi, một thân một mình Mây Hồng khổ sở tưởng như đứng tim nhiều lần vì bệnh tình của con, nay nàng chẳng thiết gì chuyện yêu đương nhưng người phụ nữ cô độc quả là một sự đáng lo sợ, xung quanh nàng không có một người thân ruột thịt, các chị bạn dì thì ở xa, nàng nghĩ cần phải có người đàn ông bảo bọc khi tai nàn và nhất là bé Vũ phải có một người cha dù rằng không cùng chung huyết thống .
Sau thời gian quen biết đi đến yêu thương, Mây Hồng lại một lần nữa chuẩn bị lên xe hoa, nàng phân vân cho số phận của mình, không lường được điều may hay rủi tuy rằng thực tế Cường tỏ ra rất thương yêu nàng – Khi Cường bàn định về việc đám cưới Hồng mới hỏi Cường:
- Việc này rất hệ trọng, anh phải mời cha mẹ anh lên nói chuyện với mẹ em vì mẹ em từ Mỹ vừa về hai hôm nay và em phải đến nhà anh thăm hai bác cũng như chào hai bác cho biết mặt .
- Việc đó dễ mà ! Cường trả lời, vậy ngày mai em xuống nhà anh trước rồi sau đó anh mời cha mẹ anh lên thăm mẹ em rồi trình bày chuyện chúng mình luôn thể…
- Nhưng anh nói cha mẹ anh bán vải ở Sài Gòn , còn nhà cha mẹ anh thì ở đâu ?
Anh nói gạt em thôi, nhà anh ở An Nhứt , và cha mẹ anh không bán vải chỉ làm nghề thầy trị bệnh thôi .
Hồng thắc mắc : vậy sao em quen biết anh đã hơn một năm rồi mà anh còn dấu diếm sự thật về gia đình anh, không chừng anh có vợ con rồi mà cũng dấu diếm luôn ?
- Cường gạt phăng : Không có, thôi anh xin lỗi vì đã nói dối với em trong thời gian quen nhau, bây giờ là sự thật, ngày mai em xuống nhà anh chơi sẽ rõ tất cả.
Hôm sau Cường lái chiếc mô tô đến, Hồng dẫn chiếc xe Dream ra rồi nổ máy chạy theo Cường, nàng không muốn ngồi chung xe mang tiếng với bên gia đình Cường, dù sao cũng phải giữ gìn cho cha mẹ Cường tôn trọng – Nghĩ thế, nàng ghé lại tiệm mua một ít bánh và trái cây để làm quà đến thăm hai bác – Sau một lúc nói chuyện với ba mẹ Cường, Hồng mới biết Cường là tên giả tự anh ta đặt , còn tên thật là Nguyễn Trọng Nhơn, thì ra con người sống hai mặt, nói dối đủ thứ…ba má Nhơn khi tiếp xúc thì có ý không thích Hồng khi nàng nói thật đã có một đời chồng và một đứa con trai, duy chỉ có bà nội của Nhơn thì rất hiền và dường như có cảm tình với nàng – Sau lần đó, nàng thấy e dè Nhơn nên từ chối việc hôn nhân, nhưng cậu ta vẫn quyết tâm xin làm đám cưới dù cha mẹ chưa bằng lòng – Hồng thấy không tin tưởng được Nhơn nên dọn về ở chung với ông ngoại và không buôn bán quán cà phê nữa…
Tùng Vũ bệnh hoạn liên miên, nửa đêm phải mướn xe chở về bệnh Viện Nhi Đồng ở Sài Gòn, nó chỉ còn xương bọc da mà Nhơn thì không buông tha cứ tìm mọi cách tới lui thăm Hồng và bé Vũ – Vì trong nỗi cô đơn và gặp nhiều việc khó khăn trong bệnh hoạn của con, Mây Hồng chấp nhận làm đám cưới với Nhơn – Cha mẹ Nhơn thì tỏ ý không bằng lòng “con trai mà lấy gái có con” rồi đổ thừa kỵ tuổi nên ngày cưới không tham dự, chỉ có bà con hai bên và hai bà Nội bà Ngoại bên Nhơn lụm cụm đến với hai cháu trong ngày cưới mà thôi – Mẹ nàng cũng không về, ông Ngoại đứng ra làm chủ hôn – tuy thế đám cưới tổ chức đãi tiệc tại nhà hàng Mai Quế Lộ cũng rất đông quan khách bạn bè thân của Nhơn và Hồng mời tới – lúc đó vào năm 1995 – hai năm đầu Nhơn cũng sống tử tế tuy rằng thường hay nhậu nhẹt say xỉn , công ăn việc làm bấp bênh cả hai sống nhờ vào tiền gửi về hàng tháng của mẹ Hồng và thỉnh thoảng ba Hồng, các cậu, các anh gửi về cho – Đã nhiều lần mẹ Hồng hỏi ý để bão lãnh sang Hoa Kỳ nàng đều không bằng lòng :
- Hồng à ! con nên nghĩ đến tương lai bé Vũ, nên gởi hồ sơ giấy tờ qua để mẹ bão lãnh vợ chồng con và bé Vũ – mẹ gọi về nhắc nhở Mây Hồng.
- Nàng trả lời : Không được đâu mẹ à ! bé Vũ là con của Phong nên khai sanh đâu phải con của Nhơn , con nghĩ khó khăn lắm, thôi con không đi Mỹ đâu, ở Việt Nam quen rồi, qua bên đó lạnh lắm và buồn lắm, con không thích đâu !
- Ai nói với con là buồn là lạnh, gia đình mình ở tiểu bang California là số một rồi, vừa ấm vừa vui…hai anh của con đã ra trường mua nhà cửa riêng và có sự nghiệp làm ăn riêng, Biển Hồng thì theo ba qua Marylane từ hơn một năm nay làm nghề Nail ( vẽ trên móng) – má muốn có vợ chồng con và bé Vũ gần gũi chứ má bên này không có con gái hủ hỉ cũng buồn lắm !
Mây Hồng suy nghĩ một hồi rồi trả lời mẹ :
- Thôi để con tính lại – hiện nay ông ngoại yếu lắm rồi không biết sống chết ngày nào đây – má giữ sức khỏe vì con thấy má về kỳ rồi má ốm lắm đó – bây giờ con phải đưa Tùng Vũ đi học, con phải ngưng ở đây, chúc má luôn vui khỏe nhé !
Nàng cúp máy và chở con đi học, đầu óc suy nghĩ miên man , đi hay ở, đi thì có tương lai cho con, nhưng xứ lạ quê người, mọi việc làm lại từ con số zero nghĩ mà ớn óc, ở đây có nhà cửa, phương tiện đầy đủ, có cả xóm giềng bạn hữu thân thương, nhất là phải chăm sóc lo cơm nước cho ông ngoại, thôi để đó tính sau…nàng quên bẵng đi chuyện đi Mỹ, mỗi khi mẹ gọi về nhắc nàng cứ ấm ớ nói cho qua lề và khai sanh của nàng , nàng cứ quên không gửi qua cho mẹ, dù tất cả giấy tờ đã hoàn chỉnh chỉ còn chờ khai sanh của Hồng là hồ sơ tiến hành.
Hai năm sau nàng hạ sanh một bé trai với Nhơn, đặt tên Nguyễn Lê Trọng Duy, bé rất kháu khỉnh, Nhơn cưng con một mực, Tùng Vũ lúc ấy thường hay bị đòn bởi cha ghẻ, cái luật cha ghẻ muôn đời vẫn thế ! Hồng buồn nhưng cam chịu, cứ nghĩ một ngày nào Tùng Vũ lớn lên chút nữa, hết nghịch ngợm lì lợm chắc sẽ không còn bị đòn nữa…
Rồi cái ngày đau thương đã đến ! Ông ngoại bệnh nằm viện hai tháng rồi mất, mẹ nàng về rồi phải trở qua Mỹ đi làm đổi cậu Bảy về lo cho ông ngoại – cậu Năm quá bận không về được, các anh cũng bận rộn không ai về. Đám tang ông ngoại hàng xóm bạn hữu đến đầy nhà, nhưng người thân thì chỉ có cậu 7 và vợ chồng Hồng và các anh chị bạn dì mà thôi…trong niềm lẻ loi đó Hồng thấy thương ông vô cùng, nếu ông chịu đi Mỹ chắc là đám tang ông lớn lao đông đảo lắm bởi các cậu và mẹ giao thiệp rất rộng, nàng khóc tức tưởi trước hương linh ông và tự hứa ở lại quê nhà để nhang khói mộ phần cho ông.
Cha mẹ Nhơn lúc đầu không thích nàng vì quan niệm cổ xưa đó, nhưng chỉ sau một thời gian họ thấy được tấm lòng và tính nết Mây Hồng, họ cũng đã thương mến nàng không còn ngăn cách nữa – còn bà nội chồng, năm nay ngoài 80, bà có vẽ rất thương quý cháu dâu, bà luôn hỏi han an ủi Hồng khi thấy nàng buồn trách về Nhơn ham chơi nhậu nhẹt tối ngày – vì bà cháu thường hay tâm sự nên càng ngày bà nội càng thương cháu dâu bởi nhận thấy nơi Mây Hồng rất xứng đáng cho bà thương yêu – nàng quý bà nội và cha mẹ chồng, luôn làm tròn bổn phận và tình thương chan hòa như cha mẹ ruột, vì chỗ thân thương đó khi ông ngoại mất cha mẹ Nhơn đồng ý để ông nằm trong miếng đất của vườn nhà và bà nội sống trong căn nhà cạnh bên miếng vườn ấy, thỉnh thoảng bà nội ra thăm những ngôi mộ của thân nhân trong đó có mộ của ông ngoại Mây Hồng – Trọng Nhơn càng ngày càng ăn chơi sa đọa, ỷ lại tiền bạc ăn tiêu có cha mẹ vợ lo, không lo gia đình, chè chén bê tha lại thêm mê gái, về nhà nửa đêm kiếm chuyện hành hung, đánh đập Hồng, nhiều lần Hồng bắt gặp chở cô này, ngồi ăn uống với cô khác và Nhơn liên tục bỏ nhà đi đêm không về – tiêu pha tiền bạc của Mây Hồng không ít – có một lần Nhơn bị công an bắt chung với những cô gái giang hồ đang hành nghề tại Long Toàn , giam qua đêm, cha mẹ Nhơn phải lên bão lãnh cho Nhơn về. Họ cố tình dấu diếm nhưng Hồng đã tường sự việc vì xã Long Toàn nằm chung trong tỉnh gần nhà nàng – Thật là nhục nhã, thật là xấu xa, từ đó nàng ghê tởm Nhơn và ít xuống thăm cha mẹ chồng - Nàng thật buồn và tủi cho thân phận nhưng chỉ biết lặng câm và chỉ biết khóc, nàng đã khóc âm thầm từ ba năm nay kể từ khi sanh bé Trọng Duy. Có một lần mẹ nàng về thăm, chứng kiến tận mắt cảnh Nhơn đấm vào tim Hồng và nàng bất tỉnh cả buổi, phải kêu thầy tới cắt các đầu ngón tay và các đầu ngón chân, nặn máu ra nàng mới tỉnh lại…
Mây Hồng đau khổ cho số kiếp của mình nhưng chẳng dám hở môi, mỗi khi mẹ gọi phone về hỏi thăm đều nói tốt mọi mặt cho Nhơn - nhưng sự thật vẫn không bao giờ che dấu được lâu, càng ngày Nhơn càng lậm thói ăn chơi xa đọa, bỏ bê vợ con, vô trách nhiệm khi ốm đau – Nước mắt Mây Hồng cạn dần sau hai cuộc tình đầy đau khổ, nàng không muốn có cuộc tình thứ ba, vì biết mình còn quá trẻ, và với nhan sắc dễ nhìn nàng không dễ gì được yên thân, thà chịu đau khổ âm thầm để tránh đổ vỡ gia đình lần thứ hai – Nhơn đâu thấy sự hy sinh và nỗi khổ của Mây Hồng, cứ sống ích kỷ cho bản thân, ăn chơi trụy lạc, tiền bạc mẹ cha cho Mây Hồng là Nhơn tìm mọi cách lấy tiêu xài nuôi gái, vung vãi ngoài đường không tiếc tay – Nhơn hư hỏng tệ bạc quá độ, tội cho Mây Hồng, nàng là người đoan chính, dù chồng có bê bối vẫn sống đàng hoàng đạo đức nuôi con, cả xóm ai cũng phục nàng qua đức hạnh hiếm có khi gia đình tiền bạc đủ đầy, có sẵn nhan sắc – Đã nhiều lần mẹ nàng về thăm con, dù che đậy cỡ nào mẹ nàng cũng biết nên có ý nhắc lại việc bão lãnh nàng sang Mỹ, nàng trả lời dứt khoát không đi, nàng không có một ấn tượng nào về nước Mỹ, nàng thương quê hương, thương nơi chôn nhau cắt rún, nơi cho nàng bao kỷ niệm không quên từ thuở bé – hơn nữa nàng lại còn trách nhiệm với tổ tiên, ông bà – hai nấm mộ ông bà ngoại chôn nơi vườn đất của bà nội chồng, hủ xương cốt bà nội của nàng gởi nơi Chùa tờ phụng, còn hai dì, còn Bích Phượng, chị cô cậu của nàng, những nắm xương tàn đã đốt thành tro bụi đó, không có nàng thì ai sẽ là người hàng ngày nhang khói cúng vái tảo mộ thờ phượng, lại còn một trách nhiệm vô cùng lớn lao với Biển Hồng, đứa em trai út của nàng, bỏ Hoa Kỳ, bỏ mẹ cha thân yêu về quê hương đua đòi hư hỏng mang thân tù tội, nàng cực khổ gian nan hàng tháng đội mưa nắng, quà cáp thăm em, cuộc đời nàng là cả bể trầm luân, không biết từ kiếp nào vay mượn mà kiếp này trả nợ thương đau đến thế, vậy mà mẹ bão lãnh đã 6 năm rồi nàng vẫn không đi, ở lại để làm tròn trách nhiệm, ở lại để cô đơn buồn tủi một thân mình !
Tùng Vũ đã lớn, nàng muốn con được ra nước ngoài ăn học, nhờ mẹ nàng liên lạc với Phong thì Phong cũng vô tình không đoái tưởng, nghe lời người chị ác tâm xúi quẩy không bão lãnh con mình còn lắm lời bạc bẽo vô nhân, dù từ khi Tùng Vũ ra đời Phong chưa một lần gặp mặt con, chưa một đồng bạc gởi nuôi con, đứa nhỏ thì giống Phong như hai giọt nước mà làm cha nhu nhược thiếu bản lĩnh trước ác tâm của người chị muốn chia rẽ vì sợ Phong chu cấp tiền bạc nuôi Tùng Vũ, mụ ta không được hưởng trọn tiền Phong cho – kẻ xấu bao giờ cũng có âm mưu lợi dụng, kẻ xấu bao giờ cũng vì tiền mất đi đạo lý, Mây Hồng tức giận và từ đấy không liên lạc, không cần Phong bão lãnh con, nàng đã xé tất cả hồ sơ định làm và nghĩ bụng sẽ không cho Phong gặp mặt con dù một lần…
Chông gai đã lắm, gian truân đã nhiều, nhưng Mây Hồng vẫn hãnh diện vì vẫn giữ được đạo đức thanh cao của người phụ nữ Việt Nam – vẫn là người mẹ gương mẫu của hai đứa con trai yêu quý, “ giấy rách phải giữ lấy lề” “ mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” những câu châm ngôn của cổ nhân để lại nàng đã thuộc nằm lòng từ khi có trí khôn, nàng hãnh diện sống cô đơn, biết bao nhiêu bạn bè thân và xóm giềng khuyên nàng nên bỏ đi loại chồng vô nhân bất nghĩa đó, nhưng nàng không nỡ, chấp nhận số phận không may, mang danh vợ chồng nhưng Nhơn toàn đi lấy hết người này đến người nọ, bỏ nàng thui thủi một mình từ năm năm nay, bây giờ anh ta phản bội trắng trợn thì vạn phúc cho nàng, nàng không mang tiếng bỏ chồng, lúc đầu nàng còn đau buồn vì không thể ngờ Nhơn tệ đến thế, nhưng rồi lý trí thức dậy, bảo rằng đừng tiếc đừng thương chi nữa loại chồng vô lương tâm, không xứng đáng – “con nào mê anh ta cũng chỉ vì tiền, mai mốt hết tiền cũng bỏ anh ta mà thôi” – Không hiểu sao bây giờ anh ta có nhiều tiền, một lần cách chừng mấy tháng lúc Nhơn đã bỏ nhà đi hẳn, nhưng còn thỉnh thoảng ghé nhà cho bé Duy tiền ăn bánh, Hồng vô tình nhìn thấy trong bóp Nhơn một cọc tiền đô, vì khi say anh ta móc bóp lấy tiền lộ liễu, Hồng về kể lại cho mẹ nghe lúc mẹ về thăm nàng…hai mẹ con đã bán tính bán nghi về số tiền mà Nhơn gạt Hồng lấy tiền đô trả nơ để Nhơn khỏi vào tù và mấy đợt bảo Hồng đưa tiền đô mua xe Dream Nhựt về để dành bán, lấy tiền mà không thấy đem xe về, gặn hỏi thì Nhơn trả lời để xe ngoài tiệm…Chừng vỡ lẽ ra thì toàn là gạt gẫm dối trá, Nhơn đã dùng mọi thủ đoạn để moi tiền đô bỏ túi riêng ăn xài thỏa thích ! Chưa vừa dạ, Nhơn còn bán đứt của Hồng hai chiếc Wave, một chiếc của Hồng và một chiếc mẹ mua để dành khi về có xe đi ! Bây giờ nhớ đến những thủ đoạn của Nhơn, Hồng rùng mình, nổi da gà, cũng may nàng phát giác sớm, cũng may Nhơn bộc lộ dã tâm sớm vì y nghĩ Hồng không còn tiền để y moi nữa nên thẳng tay phản bội đê hèn và trắng trợn – Xa lánh được loại đàn ông đê tiện này Hồng thấy nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng ngàn cân… Mây Hồng bây giờ tâm đã lặng, sống bình yên với hai con, lo cho chúng ăn học thành người, thỉnh thoảng mẹ về, các anh về, các cậu về thăm ở lại vài tuần, đôi khi mẹ về cả tháng, biết chừng đâu sau này mẹ về ở với nàng luôn và khi Biển Hồng ra tù chị em đã có nhau, nàng cần gì Nhơn, người chồng ăn chơi trụy lạc bất nhân bất nghĩa gieo đau khổ cho nàng suốt gần mười năm qua…
Bây giờ nàng không còn gì để bao che cho Nhơn nữa, mẹ gọi về và nàng đã nói thật : “ Nhơn bây giờ đang sống với cô gái khác, chính thức chở ngay trên đường phố và cô ta đã mang bầu bụng lớn rồi, anh ta bỏ nhà đi hẵn không về trên 6 tháng nay, bạn bè con gặp và con gọi phone hỏi, anh ta trả lời xác nhận đó là sự thật vì anh ta hết thương con rồi ! Đã như thế mà còn bồ bịch năm ba con đàn bà khác nữa, ai cũng nhìn thấy sự việc này và chê trách Nhơn rất nhiều, anh ta không thấy được con người vô nhân của mình còn đi bán rao với người ta rằng : “Gia đình bên vợ tệ lắm, tôi chưa bao giờ nhờ vã tiền bạc bên vợ” con người Nhơn không còn lương tri, chỉ còn thủ đoạn , cũng may mấy lần mẹ về hắn ta dụ mẹ mua xe “ Van cá mập” chạy hợp đồng, mẹ đã định mua cho hắn, may phước hàng xóm thương con và mẹ nên cản lại, nếu không hắn cũng ăn luôn chiếc xe cá mập rồi…Con nghe đâu gần đây hắn ta bồ thêm với cô Việt Kiều về nước với hy vọng cô ta sẽ bão lãnh sang Mỹ, người ta bắt cá hai tay chứ anh ta bắt cá mười tay một lượt mẹ à ! con chẳng thèm quan tâm loại đàn ông đĩ điếm bất lương đó nữa đâu mẹ, dưới mắt con hắn là kẻ đáng sợ phải lánh xa, con đã khinh tởm đến tận cùng xương tủy, chỉ chờ tòa xét xử cho con ly dị anh ta thôi… tâm hồn con bây giờ đã bình yên rồi, xin mẹ hoàn toàn yên tâm” … Từ đó mẹ gọi về nghe giọng nàng thánh thót vui tươi, không đượm chút gì phiền não, nàng đã phi thường đánh đổ thường tình nhi nữ, mẹ thấy thương Mây Hồng quá, mẹ đã vô phước đường tình duyên, nàng đẹp hơn mẹ sao đường tình không may mắn mà lại còn bạc phận hơn mẹ nữa, mẹ gọi phone về thường nói : “vợ chồng là nợ tiền khiên, trả hết nợ là mừng rồi, thoát nạn rồi con ơi – còn ai gieo gió thì gặt bão – ngày xưa quả báo còn chầy, ngày nay quả báo một giây nhãn tiền” Mây Hồng cười vui, trước mắt nàng bầu trời như rực rỡ hơn vì đã cắt bỏ được những ung nhọt, mắt vẫn sáng, môi vẫn hồng và niềm tin đức năng thắng số, nàng vẫn tin vào một ngày mai tươi đẹp “ qua cơn mưa trời lại sáng” ….
Đời của nàng như một trang cổ tích
Đọc mà thương mà xót phận hồng nhan
Có sắc hương lại thêm phần thanh lịch
Sao trời cao xui duyên phận bẽ bàng ?!
Nàng hiên ngang và cang cường chịu đựng
Mây Hồng ơi, em sáng tựa vầng trăng
Ta tin em một đời em đứng vững
Thuyền em chèo xuôi mái ngọn hoa đăng…

truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Chuyến xe đêm

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Tôi muốn viết hẳn một chương riêng về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng của nó tới đời sống của chúng tạ Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã viết thay vào đó một truyện ngắn về nhà thơ Anđecxen. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn này có thể thay thế chương sách định viết và làm cho ta hình dung trí tưởng tượng còn rõ hơn là những câu chuyện chung chung về đề tài này”.
Trong cái khách sạn bẩn thỉu và cũ kỹ ở thành Vơnidơ không bói đâu ra mực, mà ở đây có mực để làm gì cơ chứ ? Để viết phiếu thanh toán quá giá cho khách trọ chăng ?
Thật ra, khi Anđecxen mới đến khách sạn thì trong cái bình mực bằng thiếc vẫn còn một ít. Chàng dùng mực ấy viết một câu chuyện cổ tích. Nhưng câu chuyện mỗi lúc một nhợt nhạt trông thấy bởi Anđecxen đã mấy lần pha thêm nước lã vào mực. Thế là chàng không viết hết được câu chuyện - cái đoạn kết vui vẻ của nó còn nằm lại ở đáy lọ.
Chàng yêu mến Vơnidơ và đặt tên cho nó là “Bông sen tàn”.
Mây mùa thu thấp lè tè cuồn cuộn trên mặt biển. Nước hôi hám vỗ óc ách trên dòng kênh. Gió lạnh thổi trên các ngã ba, ngã tư đường phố. Nhưng khi mặt trời ló ra thì màu đá hồng nổi lên từ dưới đám rêu xanh và ngoài cửa sổ, cả thành phố hiện ra như một bức tranh của Kanalettô, nhà danh họa già người Vơnidơ.
Quả vậy, Vơnidơ tuy hơi buồn nhưng thật là đẹp. Song, đã đến lúc phải xa nó để đi tới những thành phố khác.
Vì thế mà Anđecxen đã chẳng luyến tiếc bao nhiêu khi bảo gã bồi phòng đi mùa vé cho chuyến xe đêm sang Vêrôn.
Gã bồi phòng thật xứng với cái khách sạn - anh ta lười biếng, lúc nào cũng ngà ngà say, hay ăn cắp vặt nhưng có bộ mặt hồn nhiên cởi mở. Gã chưa hề dọn phòng cho Anđecxen lần nào, đến nỗi có việc quét cái sàn đá thôi gã cũng chẳng làm.
Từ những màn cửa bằng nhung đỏ mối bay ra trong giống những đàn ong vàng óng. Muốn rửa mặt phải dùng cái chậu sứ rạn có hình những cô gái đang tắm. Cây đèn dầu đã gãy. Thay vào đó người ta đặt trên bàn một chân nến nặng nề bằng bạc trên còn một mẩu nến mỡ lợn cháy dở. Có lẽ từ thời Tiziano người ta chưa hề lau rửa cho nó.
Từ tầng một, nơi có quán rượu rẻ tiền, xông lên mùi thịt cừu rán và mùi tỏi. Những người đàn bà trẻ bận áo lót nhưng xơ xác buộc lỏng lẻo bằng những dải băng đứt, suốt ngày cười oang oang và gây lộn với nhau.
Đôi khi họ đánh nhau, giằng kéo, túm lấy tóc nhau. Những lúc ấy nếu Anđecxen đi qua đám đánh nhau thì chàng dừng lại và thán phục nhìn những mái tóc rối tung, những bộ mặt đỏ gay vì tức giận và những cặp mắt long lên khao khát trả thù.
Nhưng đáng yêu hơn cả tất nhiên vẫn là những giọt nước mắt tức giận trào ra và chảy trên gò má như những hạt kim cương.
Khi thấy chàng, họ dịu đi, ngượng ngùng trước cái ông khách gầy còm và lịch sự có cái mũi thanh tú. Họ tưởng chàng là một nhà ảo thuật vãng lai, mặc dầu họ vẫn kính nể gọi chàng là “xinho thi sĩ”. Theo hiểu biết của họ chàng là một nhà thơ kỳ dị, thiếu nhiệt huyết. Chàng không hát theo dây đàn lục huyền những khúc thuyền ca làm tan nát lòng người và không mê hết người đàn bà này đến người đàn bà khác. Chỉ có một lần chàng rút ở khuyết áo ra một bông hồng đỏ thắm rồi tặng cho cô bé rửa bát xấu xí nhất bọn. Hơn nữa cô ta lại thọt, đi lắc lư như vịt.
Khi gã bồi phòng đi rồi, Anđecxen chạy lại gần cửa sổ, hé mở tấm màn nặng nền và trông thấy gã vừa đi vừa huýt sáo dọc bờ kênh. Gã đứng lại hồi lâu trên chiếc cầu cong và chăm chú nhổ vào cái vỏ trứng rỗng trôi lềnh bềnh dưới chân cầu.
Cuối cùng gã nhổ trúng vào chiếc vỏ trứng chìm nghỉm. Đoạn gã lại gần chú bé đội chiếc mũ dạ rách. Chú bé đang câu cá. Gã bồi ngồi xuống một bên, ngây dại nhìn chằm chằm vào chiếc phao và chờ xem có con cá lang thang nào cắn không.
- Trời ! - Anđecxen tuyệt vọng kêu lên - Chả lẽ hôm nay mình không đi được vì cái thằng đần độn này ư ?
Anđecxen mở toang cửa sổ ra. Tiếng kính cửa rung mạnh đến nỗi gã bồi phòng nghe thấy và ngẩng đầu lên. Anđecxen giơ hai tay lên trời phẫn nộ lắc lắc hai quả đấm.
Gã bồi phòng giật chiếc mũ của thằng bé, hoan hỉ giơ chiếc mũ vẫy Anđecxen rồi chụp lên đầu thằng bé và nhảy lên, biến mất vào một góc phố nhỏ.
Anđecxen phá lên cười. Chàng không tức giận chút nào. Thậm chí những chuyện ngộ nghĩnh vặt vãnh như thế càng làm cho thú say mê du lịch trong người chàng mỗi ngày một mạnh thêm.
Du lịch bao giờ cũng hứa hẹn những điều bất ngờ. Ai mà biết trước được lúc nào sẽ có cái nhìn hóm hỉnh của người đàn bà ánh lên trong khóe mắt, lúc nào những ngọn tháp của một thành phố không quen biết sẽ hiện ra ở đằng xa, và cột buồm của những con tàu lớn sẽ nghiêng ngả ở chân trời, những vần thơ nào sẽ đến với ta trước cảnh cơn giông gầm thét trên dãy núi Anpơ, và giọng ai sẽ hát cho ta nghe, như tiếng nhạc ngựa đường xa, bài hát về một cuộc tình duyên dang dở.
Gã bồi phòng mang tấm vé xe về nhưng không trả lại tiền thừa, Anđecxen túm lấy cổ gã và lịch sự tống ra ngoài hành lang. Ở đó chàng bông đùa đập nhẹ lên gáy gã một cái và gã bồi phòng liền phóng thẳng xuống cái cầu thang ọp ẹp, nhảy cách bậc và hát ầm ĩ.
* *
*
Xe vừa đi khỏi Vơnidơ thì trời bắt đầu mưa lâm thâm. Đêm tối hạ xuống đầm lầy.
Người đánh xe nói rằng chính quỷ vương đã bày ra chuyện bắt xe từ Vơnidơ đến Vêrôn phải đi đêm hôm thế này.
Hành khách không trả lời. Người đánh xe im lặng rồi giận dữ nhổ bọt và báo trước để hành khách biết rằng ngoài mẩu nến tàn trong cái đèn bằng sắt tây không còn một cây nến nào hết.
Không ai chú ý đến chuyện đó. Người đánh xe im lặng rồi giận dữ nhổ bọt và báo trước để hành khách biết rằng ngoài mẩu nến tàn trong cái đèn bằng sắt tây không còn một cây nến nào hết.
Không ai chú ý đến chuyện đó. Người đánh xe bèn tỏ vẻ hoài nghi về đầu óc minh mẫn của khách trên xe và nói thêm rằng Vêrôn là một chốn hang cùng, người đứng đắn không ai đến đó làm gì.
Hành khách biết gã nói bậy nhưng chẳng ai buồn phản đối.
Trên xe cả thảy có ba người : Anđecxen, một linh mục đã có tuổi, vẻ mặt cau có, và một thiếu phụ mặc áo choàng màu sẫm. Anđecxen có cảm giác như thiếu phụ lúc thì trẻ, lúc thì già, lúc đẹp, lúc xấu. Tất cả cái đó là do ánh lửa lập lòe của ngọn nến tạo nên.
- Hay là ta tắt nó đi ? - Anđecxen hỏi. - Giờ cũng chẳng cần đến nó. Rồi đến lúc lại chẳng có gì mà thắp.
- Đây là một ý nghĩ không bao giờ có thể có trong đầu một người Ý ! - linh mục kêu lên.
- Tại sao vậy ?
- Người Ý không biết phòng trước cái gì hết. Họ sực nhớ ra và kêu la ầm ĩ khi đã chẳng còn cách nào cứu vãn.
- Thưa cha, - Anđecxen hỏi, - vậy thì chắc cha không phải là người của dân tộc nhẹ dạ ấy ?
- Tôi là người Áo ! - linh mục trả lời giận dữ.
Câu chuyện ngừng bặt, Anđecxen thổi tắt ngọn nến. Một lát sau thiếu phụ lên tiếng:
- Ở cái cùng này của nước Ý đi đêm không đèn lại hay cơ đấy.
- Dù thế nào thì tiếng bánh xe cũng làm chúng ta bị lộ - linh mục phản đối và nói thêm. - Đàn bà đi đường xa lẽ ra phải có người nhà đi hộ tống.
- Người hộ tống của tôi - thiếu phụ trẻ trả lời và cười hóm hỉnh - ngồi bên tôi đó.
Thiếu phụ muốn nói Anđecxen. Chàng liền ngả mũ cảm ơn người bạn đồng hành.
Ngọn nến vừa tắt thì tiếng động và mùi vị xông lên càng mạnh, như thể chúng mừng rỡ vì đối thủ của mình đã biến mất. Tiếng vó ngựa, tiếng bánh xe lạo xạo lăn trên sỏi, tiếng nhịp xe cọt kẹt và tiếng mưa vỗ lộp bộp vào mui xe nghe càng tọ Mùi cỏ ẩm ướt va mùi bãi lầy lọt vào cửa xe cũng đâm thêm.
- Lạ thật ! - Anđecxen nói - Ở Ý, tôi đinh ninh sẽ được thấy mùi rừng cam chanh, hóa ra lại gặp cái khí trời đát nước phương bắc của tôi.
- Sắp khác rồi, ông ạ, - thiếu phụ nói. - Xe đang lên đồi. Trên kia khí trời ấm hơn.
- Ngựa đi bước một. Quả thực xe đang lên một quả đồi thoai thoải.
Nhưng đêm không vì thế mà sáng hơn. Trái lại, hai bên đường kéo dài những hàng du cổ thụ, dưới cành lá lòa xòa bóng tối càng dày đặc hơn và âm thầm hơn, thoáng nghe thấy tiếng mưa rì rào trên lá.
Anđecxen hạ cửa xuống. Một cành du ngó vào xe. Anđecxen bứt vài chiếc lá làm kỷ niệm.
Giống như nhiều người giàu trí tưởng tượng, chàng say mê thu lượm đủ mọi thứ lặt vặt trong những chuyến đi. Nhưng những cái lặt vặt ấy có một đặc tính : chúng làm sống lại dĩ vãng, tái tạo cái trạng thái mà Anđecxen đã trải qua đúng lúc chàng nhặt một mảnh vỡ của bức khảm, một chiếc lá du hay móng sắt nhỏ của một con lừa nào đó.
- Đêm rồi ! - Anđecxen tự nhủ.
Lúc này chàng thích màn đêm hơn là ánh sáng mặt trời. Bóng tối cho phép ta yên tĩnh suy nghĩ về mọi thứ trên đời. Và khi chàng nghĩ chán rồi thì nó giúp chàng tưởng tượng ra mọi thứ chuyện trong đó nhân vật chính là bản thân chàng.
Trong những câu chuyện đó Anđecxen bao giờ cũng hình dung là mình đẹp trai, trẻ trung, hoạt bát. Chàng hào hiệp tung ra quanh mình những lời nói làm say sưa lòng người, những lời mà các nhà phê bình đa cảm gọi là “hoa thơ”.
Thực ra chàng rất xấu trai và hiểu rõ điều đó. Chàng cao ngổng và nhút nhát. Tay chân chàng lòng thòng như tay chân con rối treo trên sợi dây. Những con rối mà ở tổ quốc chàng trẻ con gọi là “hampenman”.
Với những đặc tính như thế chẳng có hy vọng gì được phụ nữ chú ý. Nhưng mỗi lần những thiếu phụ đi qua mặt chàng như qua cái cột đèn thì lòng chàng lại nhói lên vì hờn tủi.
Anđecxen thiu thiu ngủ.
Khi tỉnh lại thì trước tiên chàng nhìn thấy một ngôi sao lớn màu lá mạ. Nó sáng rực ngay sát mặt đất. Đêm chừng đã khuya.
Xe đã dừng lại. Ở bên ngoài có tiếng nói lao xao. Anđecxen lắng tai nghe. Người đánh xe đang mặc cả với mấy cô gái vừa gọi xe đỗ lại giữa đường.
Những giọng nói của các cô gái cứ ngọt lịm và giòn vang đến nỗi cái cuộc mặc cả du dương ấy giống như khúc ngâm của một vở ca kịch cổ.
Người đánh xe không bằng lòng chở họ tới một thị trấn chắc là rất nhỏ bé nào đó với giá tiền họ trả. Các cô gái nhao nhao nói rằng ba người đã góp cả lại và họ không còn tiền nữa.
- Thôi được ! Ađecxen bảo người đánh x e – Tôi sẽ trả nốt số tiền thiếu mà anh đã càn rỡ đòi họ. Tôi sẽ thêm nữa nếu như anh thôi không ăn nói thô lỗ với khách và tán dóc.
- Thôi được, mời các quý nương lên, - người đánh xe nói với các cô gái. – Hãy cảm ơn Đức mẹ đã dun dủi cho các cô gặp cái ông hoàng ngoại quốc coi tiền như rác này. Ông ấy chẳng qua không muốn xe phải đậu lại vì các cô, thế thôi. Chứ ông ấy báu các cô lắm đấy !
- Giê su, lạy chúa tôi ! – Nhà tu hành rên rỉ.
- Các cô lại đây ngồi gần tôi cho ấm, - thiếu phụ nói.
Mấy cô gái chuyền cho nhau đồ đạc, rì rầm bàn tán và lên xe, chào mọi người, bẽn lẽn cám ơn Anđecxen rồi ngồi xuồng và im lặng.
Họ mang theo lên xe mùi pho mát sữa cừu và mùi bạc hà. Anđecxen lờ mờ trông thấy các hạt thủy tinh lấp lánh trong những đôi hoa tai rẻ tiền của các cô gái.
Xe đi. sỏi lạo xạo dưới bánh. Các cô gái bắt đầu thì thầm nói chuyện.
- Họ muốn biết ông là ai, - thiếu phụ lên tiếng và Anđecxen đoán rằng nàng đang cười diễu trong bóng tối. – Có thật là một ông hoàng ngoại quốc không ? Hay chỉ là một du khách kiểm lâm bình thường ?
- Tôi là nhà tiên tri, - không đắn đo, Anđecxen đáp. – Tôi biết tiên đoán tương lai và nhìn rõ trong bóng tối. Nhưng tôi không phải là một tên bịp bợm. Và, có lẽ tôi là một thứ ông hoàng nghèo ở cái xứ sở của Hamlet đã sống ngày xưa.
- Thế cái gì ông có thể nhìn thấy trong đêm tối thế này ? - một cô gái ngạc nhiên hỏi.
- Như cô chẳng hạn, - Anđecxen trả lời. – Tôi thấy cô rõ đến nỗi lòng tôi đã mê say trước vẻ kiều diễm của cô.
Chàng nói điều đó và cảm thấy mặt mình lạnh toát. Cái trạng thái mà chàng thường trải qua mõi lần sáng tác thơ hoặc truyện cổ tích đã đến gần.
Trong trạng thái ấy hòa hợp lại nỗi ưu tư nhẹ nhàng, những suối từ không hiểu từ đâu đến và cảm giác bất ngờ về sức mạnh của của thơ ca, về quyền lực của mình đối với trái tim người đời.
Giống như trong một câu chuyện chàng viết, nắp chiếc rương thần cũ kỹ bỗng bật mở ầm một cái. Trong chiếc rương đó giấu kín những ý nghĩ chưa thốt thành lời, những tình cảm còn ngủ yên và tất cả sự mê hoặc của trái đất - mọi màu sắc và âm thanh, những làn gió ngát hương và biển cả bao la, tiếng ồn ào của rừng, những dằn vặt của tình yêu và tiếng líu lo của con trẻ.
Anđecxen không biết gọi trạng thái ấy là gì. Một số gọi đó là cảm hứng, số khác gọi là sự phấn chấn, số khác nữa gọi là tài ứng tác.
- Tôi tỉnh giấc và nghe thấy giọng các cô nói trong đêm, - im lặng một lát, chàng điềm đạm nói. – Các cô gái xinh đẹp ơi, như thế cũng đủ để cho tôi quen biết các cô và còn hơn thế nữa, để yêu các cô như những cô em gái thỉnh thoảng mới gặp mặt. Tôi nhìn thấy các cô rõ lắm. Chẳng hạn như cô, cô con giái có mái tóc vàng nhẹ bỗng. Cô là cô gái hay cười khanh khách và cô yêu hết thảy mọi vật đến nỗi những con sau trong rừng cũng sà xuống đậu trên vai cô khi cô vun xới trong vườn.
- Ôi, Nicôlina, ông ấy nói đằng ấy đấy ! - Một cô gái lớn tiếng thì thào.
- Cô có một trái tim sôi nổi, cô Nicôlina ạ, - Anđecxen vẫn điềm đạm nói tiếp. - Nếu như chẳng may có chuyện không lành xảy ra với người yêu của cô, cô sẽ chẳng đắn đo suy nghĩ vượt qua ngàn dặm núi tuyết và sa mạc để gặp mặt và cứu chàng. Tôi nói đúng không nào ?
- Vâng, em sẽ đi thật… - Nicôlina bối rối, ấp úng. - Nếu ông đã nghĩ như thế.
- Các cô tên là gì ? – Anđecxen hỏi.
- Chúng em là Nicôlina, Maria và Anna, - một cô trong bọn sốt sắng trả lời thay các bạn.
- Cô Maria ạ, đáng ra tôi không muốn nói về sắc đẹp của cô. Tôi nói tiếng Ý không thạo. Nhưng từ lúc thiếu thời tôi đã nguyện với Nàng Thơ sẽ ca tụng sắc đẹp ở bất cứ nơi nào tôi được gặp.
- Lạy Chúa tôi ! - vị linh mục nói khẽ. – Ông ta bị nhện độc cắn rồi. Ông ta đã hóa rồ.
- Có những người đàn bà quả là đẹp mê hồn. Phần nhiều họ là những người bản tính kín đáo. Họ sống với niềm đam mê cháy bỏng trong lòng, không thổ lộ với ai. Niềm mê say đó dường như từ bên trong tỏa ra làm cho mặt họ nóng bừng. Cô như thế đấy, cô Maria ạ ! Số mệnh của những người đàn bà như thế thường là kỳ lạ. Hoặc là rất buồn thảm, hoặc là rất hạnh phúc.
- Ông đã gặp những người đàn bà như thế bao giờ chưa ? - thiếu phụ hỏi.
- Vừa gặp đây thôi, - Anđecxen trả lời. – Tôi không phải chỉ nói về cô Maria mà cả về bà nữa, thưa bà.
- Tôi mong rằng ông nói thế cốt không phải cho đêm dài chóng qua, - người đàn bà nói, giọng run run. - Điều ông vừa nói thật là tàn ác đối với cô gái kiều diễm nà. Và cả tôi nữa, - nàng nhẹ nhàng nói tiếp.
- Thưa bà, chưa lúc nào tôi lại nghiêm chỉnh như lúc này.
- Vậy thì sao ? - Maria hỏi. - Liệu em có hạnh phúc hay không ?
- Cô muốn hưởng nhiều ở đời, mặc dầu cô chỉ là một cô gái nông thôn bình dị. Vì thế cô không dễ dàng được hạnh phúc. Nhưng trong đời mình cô sẽ gặp một người xứng đáng với trái tim hay hờn dỗi của cộ Người cô chọn tất nhiên là một người xuất sắc. Có thể đó là nhà hội họa, là nhà thơ, là chiến sĩ đấu tranh cho tự do của nước Ý… Mà cũng có thể đó chỉ là một chàng mục đồng hay một thủy thủ, nhưng là người có một tâm hồn lớn. Nói cho cùng, thì cũng thế cả thôi.
- Thưa ông, em không nhìn thấy ông, vì thế em cứ hỏi mà chẳng thẹn thùng, - Maria rụt rè nói. – Nên làm gì đây, nếu người ấy đã làm chủ trái tim em rồi ? Em mới gặp chàng có vài bận, thậm chí cũng chẳng biết chàng bây giờ ở đâu.
- Cứ tìm chàng đi ! – Anđecxen thốt lên. – Hãy tìm bằng được, và chàng sẽ yêu cô.
- Maria ! – Anna vui vẻ nói. – Thì ra đó là cái anh chàng họa sĩ ở Vêrôn đấy chứ ai…
- Im đi ! – Maria mắng át.
- Vêrôn chẳng phải là một thành phố to lớn gì để đến nỗi không tìm nổi một người, - thiếu phụ nói. – Cô nhớ lấy tên tôi. Tôi là Elêna Guytsiôlị Tôi hiện ở Vêrôn. Người Vêrôn nào cũng biết nhà tôi. Cô Maria này, cô đến Vêrôn đi. Và sẽ ở cùng tôi đến tận cái ngày hạnh phúc mà ông bạn đường thân mến của chúng ta đã tiên đoán cho cô.
Trong bóng tối, Maria tìm bàn tay Elêna và áp vào bên má nóng hổi của mình.
Mọi người im lặng. Anđecxen nhận thấy một ngôi sao xanh đã tắt. Nó đã lặn dưới chân trời. Nghĩa là đã quá nửa đêm.
- Kìa, sao ông không đoán gì cho em ? Anna, cô gái nhanh mồm nhanh miệng nhất bọn hỏi.
- Cô sẽ có nhiều con, - Anđecxen nói một cách quả quyết. – Chúng nó sẽ xếp thành hàng, nối đuôi nhau nhận phần sữa. Cô sẽ mất nhiều thì giờ để tắm rửa và chải đầu cho cả lũ. Nhưng chồng sắp cưới sẽ giúp cô một tay.
- Có phải là Pêtơrô không ? – Anna hỏi. – Em cần cái anh chàng béo ục ịch ấy lắm đấy !
- Rồi cô còn mất nhiều thì giờ nữa để hôn vài lần trong mọt ngày những con mắt long lanh hiếu kỳ của hết thảy những thằng cu, con bé của cô.
- Trong lãnh địa của giáo hoàng mà nói những lời lẽ điên rồ ấy thì thật là quá quẩn ! - vị linh mục bực bội nói, nhưng không ai chú ý đến lời nói của ông ta.
Mấy cô gái lại thì thầm chuyện gì với nhau. Tiếng cười luôn luôn cắt đứt tiếng xì xào. Cuối cùng Maria nói :
- Thưa ông, bây giờ chúng em muốn biết ông là người thế nào. Chúng em thì lại không nhìn được trong bóng tối.
- Tôi là nhà thơ phiêu lãng, - Anđecxen trả lời. – Tôi còn trẻ. Tóc tôi rậm, uốn sóng và mặt tôi rám nắng. Đôi mắt xanh của tôi hầu như lúc nào cũng cười, bởi tôi vô tư và chưa yêu ai. Công việc duy nhất của tôi là đem những món quà nhỏ tặng người khác và làm những việc lăng nhăng cốt sao cho người thân được vui lòng.
- Thí dụ những việc gì thưa ông ? – Elêna hỏi.
- Biết kể gì cho bà nghe đây ? Mùa hè năm ngoái tôi ở nhà một người quen làm nghề kiểm lâm ở xứ Giuytlan. Một hôm tôi dạo chơi trong rừng và tới một quãng rừng thưa, nơi có rất nhiều nấm. Ngay ngày hôm đó tôi trở lại cánh rừng ấy và giấu dưới mỗi cây nấm hoặc một cái kẹo bọc giấy bạc, một quả chà là, một bó hoa tí xíu bằng sáp, hoặc một cái đê khâu và một mẩu băng lụa. Sáng hôm sau tôi đi cùng với cháu gái con ông kiểm lâm vào cánh rừng đó. Cháu bé lên bảy. Thế là dưới mỗi gốc nấm cháu tìm thấy những vật nhỏ bé kỳ lạ kia. Chỉ thiếu có quả chà là. Hẳn là một chú quạ nào đã tha đi mất. Ồ, nếu bà được trông thấy đôi mắt em bé sáng rực lên vì sung sướng ! Tôi quả quyết với cháu rằng những vật đó là của những chú quỷ lùn đã giấu ở đấy.
- Ông đã đánh lừa một đứa bé ngây thơ ! - Vị linh mục phẫn nộ nói. – Đó là một tội lớn.
- Không, đó chẳng phải là chuyện đánh lừa. Em bé sẽ nhớ chuyện ấy suốt đời. Và tôi xin quả quyết với cha rằng trái tim cháu sẽ không dễ dàng cằn cỗi như ở những người không được biết chuyện cổ tích ấy. Hơn nữa, thưa cha, tôi cũng muốn nói để cha biết rằng tôi vốn không ưa những lời răn ép buộc.
Xe dừng lại. Các cô gái ngồi yên không nhúc nhích như bị bỏ bùa. Elêna cúi đầu im lặng.
- Này, các mỹ nương ! - Người đánh xe kêu lên. - Tỉnh dậy thôi ! Đến nơi rồi.
Các cô gái lại thì thào chuyện gì và đứng dậy.
Trong bóng tối Anđecxen bỗng thấy hai cánh tay khỏe mạnh ôm lấy cổ chàng và một đôi môi nóng hổi áp vào môi chàng.
- Cảm ơn ông ! – đôi môi nóng hổi ấy thì thầm, và Anđecxen nhận ra giọng nói của Maria.
Nicôlina cảm ơn chàng và hôn chàng thận trọng và âu yếm, tóc cô mơn man trên mặt chàng. Cái hôn của Anna thì kêu và khỏe. Các cô nhảy xuống đất. Xe lại chuyển bánh trên con đường lát đá. Anđecxen nhìn ra ngoài cửa sổ. Chẳng thấy gì ngoài những ngọn cây đen thẫm trên nền trời hơi ngả màu xanh lục. Bình minh hửng sáng.
Thành Vêrôn làm chàng ngạc nhiên vì những tòa nhà tráng lệ. Những mặt tiền trang nghiêm đua tài khoe sắc với nhau. Nền kiến trúc hài hòa lẽ ra phải làm cho tâm hồn thanh thản. Nhưng lòng Anđecxen lại xáo động.
Tối hôm đó Anđecxen đến giật chuông căn nhà cổ kính của Elêna trong một phố hẹp dẫn lên pháo đài.
Chính Elêna ra mở cửa cho chàng. Cái áo nhung xanh bó sát lấy thân nàng. Ánh nhung hắt lên mắt nàng làm cho đôi mắt ngả màu xanh nước biển đẹp vô ngần.
Nàng giơ cả hai tay đón chàng, những ngón tay lạnh nắm chặt lấy bàn tay to lớn của chàng, rồi nàng lùi lại dẫn chàng vào một phòng nhỏ.
- Tôi nhớ quá chừng ! – nàng nói một cách bình dị và mỉm cười như có lỗi. – Tôi đã cảm thấy thiếu anh rồi.
Anđecxen tái mặt. Suốt ngày chàng chỉ nghĩ đến Elêna, lòng xáo động âm thầm. Chàng biết rằng mình có thể yêu đến chết mệt mỗi lời nói của người đàn bà ấy, từng chiếc lông mi rơi của nàng, từng hạt bụi vướng trên tà áo nàng. Chàng hiểu điều đó. Chàng nghĩ rằng một mối tình như thế nếu cứ để cho nó bùng lên thì trái tim chàng sẽ không chứa nổi. Nó sẽ mang lại biết bao dằn vặt và niềm vui, nước mắt và tiếng cười khiến chàng không đủ sức chịu đựng tất cả những đổi thay và bất ngờ của tình yêu đó.
Và biết đâu, chỉ vì mối tình kia mà những chuyện cổ tích của chàng như một đàn ong sặc sỡ, sẽ chẳng nhạt phai, sẽ chẳng bỏ chàng bay đi để không bao giờ trở lại. Lúc đó chàng sẽ còn giá trị gì ?
Dù sao thì rồi tình yêu của chàng cuối cùng cũng chẳng được đáp lại. Biết bao lần đã xảy ra như thế. Những người đàn bà như Elêna thường hay đồng bóng. Một ngày đáng buồn kia nàng sẽ nhận thấy chàng xấu xí. Chính chàng cũng gớm ghét bản thân mình. Luôn luôn chàng cảm thấy những cái nhìn chế giễu sau lưng mình. Những lúc ấy dáng đi của chàng trở nên cứng quèo, chàng vấp lên vấp xuống và chỉ muốn độn thổ.
Chàng tự nhủ : “Chỉ trong trí tưởng tượng mới có thể vĩnh cửu, có thể vĩnh viễn là thơ là mộng. Hình như ta có thể tưởng tượng ra tình yêu giỏi hơn là được hưởng tình yêu trong thực tại”.
Vì thế chàng đã đến nhà Elêna với ý định dứt khoát là gặp nàng xong rồi đi ngay để không bao giờ gặp lại.
Chàng không dám nói thẳng điều đó ra với nàng. Giữa hai người đã có gì đâu. Họ mới gặp nhau hôm qua trên một chuyến xe và chưa hề nói với nhau điều gì.
Anđecxen dừng lại trước cửa phòng và đưa mắt nhìn quanh. Trong một góc, bức tượng đầu nữa thần Đian (#1) bằng đá trắng toát dưới ánh sáng của những cây đèn, hình như tái nhợt đi vì xúc động trước sắc đẹp của chính mình.
- Ai đã làm cho gương mặt bà trở thành bất tử trong pho tượng Đian kia vậy ? – Anđecxen hỏi.
- Cavôna (#2) đấy, - Elêna trả lời và cúi mặt xuống. Hình như nàng đoán biết tất cả những gì đang xốn xang trong lòng chàng.
- Tôi đến đây để từ biệt bà, - Anđecxen lẩm bẩm bằng một giọng trầm ngâm, - Tôi chạy khỏi Vêrôn đây.
- Tôi biết anh là ai rồi, - nhìn thẳng vào mặt chàng, Elêna nói, - Anh là Krixtian Anđécxen, nhà thơ và người viết truyện cổ tích nổi tiếng. Nhưng hóa ra trong cuộc đời anh lại sợ chuyện cổ tích đến nỗi anh cũng chẳng có đủ nghị lực và can đảm cho một cuộc tình ngắn ngủi.
Anđecxen thú nhận:
- Đó là cây thập tự quá sức của tôi.
- Vậy thì nhà thơ phiêu lãng thân yêu của em, - Elêna chua chát nói và đặt tay lên vai Anđecxen, - Anh hãy chạy đi ! Chạy cho thoát ! Cầu cho đôi mắt anh mãi mãi tươi cười. Đừng nghĩ đến em. Nhưng nếu một ngày kia, tuổi già, nghèo nàn và bệnh tật có làm anh đau khổ thì anh chỉ cần nhắn cho em một lời, em sẽ đi bộ như cô Nicôlina nọ, vượt qua ngàn dặm, qua bao núi tuyết và sa mạc khô cằn để tới an ủi anh.
Nàng gieo mình xuống chiếc ghế bành và lấy tay che kín mặt. Những ngọn nến trên giá nổ lách tách.
Anđecxen nhìn thấy một giọt nước mắt long lanh rỉ qua những ngón tay nhỏ nhắn của Elêna rơi xuống vạt áo nhung và lăn đi.
Chàng xô tới, quỳ xuống trước mặt nàng, áp mặt vào đôi bàn chân ấm áp, rắn rỏi và dịu dàng của nàng. Elêna vẫn nhắm mắt, đưa tay ra ôm lấy đầu chàng, nàng cuối xuống và hôn vào môi chàng.
Giọt nước mắt nóng hổi thứ hai rơi xuống mặt chàng. Chàng cảm thấy vị mặn của nó.
- Anh đi đi ! – Nàng nói khẽ. - Cầu cho Nàng Thơ tha thứ mọi điều cho anh.
Chàng đứng dậy, cầm lấy mũ và bước vội ra ngoài.
Chuông chầu đổ hồi trên toàn thành Vêrôn.
Hai người không bao giờ gặp nhau nữa, nhưng luôn luôn nghĩ đến nhau.
Có lẽ vì thế ít lâu trước khi nhắm mắt Anđecxen đã nói với một nhà văn trẻ :
- Tôi đã trả bằng một giá đắt, có thể nói vô cùng đắt cho những chuyện cổ tích của tôi. Vì chúng, tôi đã từ bỏ hạnh phúc của mình và bỏ qua thời gian khi mà trí tưởng tượng, dù cho có mạnh và hào nhoáng đến mấy, cũng phải nhường chỗ cho thực tế.
Bạn hỡi, hãy biết vận dụng trí tưởng tượng không phải để gây ra đau buồn, mà để mang lại hạnh phúc cho mọi người và cho bản thân mình.
Dịch giả: Kim Ân
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

cánh tay đứa trẻ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Canh đã khuya, hạt mưa gieo tí tách, Hà Nội đang chìm đắm trong một cảnh buồn rầu thảm đạm.
Phố xá đã vắng tanh. Lơ thơ một vài cái xe, áo tơi cánh gà bưng kín mít, ghếch càng lên bờ hè mà anh xe thì co ro ngồi ẩn mưa ở dưới hiên. Vài con mèo cắn nhau ở trước cửa một nhà kia gào lên những tiếng "mao... o" lanh lảnh ghê mình.
... Trong cái buồng giấy rất lịch sự trang hoàng theo lối mới, dưới cái ánh sáng le lói của ngọn đèn điện, Bùi Nguyên đang cắm cúi viết một bức thơ. Chắc bức thơ kia có lắm điều khó nói, nên thỉnh thoảng chàng lại cau đôi lông mày, cắn móng tay, nghĩ ngợi...
Sau nửa giờ đồng hồ nghí ngoáy, vất vả, bức thư đã viết xong, chàng ném bút xuống bàn, xoa tay có vẻ khoan khoái, nhẹ nhàng như đã cất được một gánh nặng. Chàng châm thuốc hút rồi cầm bức thơ đọc lại.
Hà Nội, ngày 14-6-1934
Thưa chú,
Khi chú nhận được bức thơ này, thì cháu đã ra người thiên cổ, chắc chú phải cho cháu là một kẻ hèn nhát không chịu nổi nỗi đau đớn ở trên đời mà phải quyên sinh. Cháu xin thú thực với chú rằng cháu không có cái can đảm chịu được những nỗi chênh lệch, éo le ở đời. Cháu không thể khoanh tay giương mắt ngồi nhìn cái cơ nghiệp của cha ông vì cháu buôn thua bán lỗ, vì cháu bất tài mà phải sa vào tay kẻ khác, cháu không thể đang tâm mục kích cái cảnh tượng tan tành của gia đình cháu được. Cháu tưởng đến ngày một ngày hai đây, bọn khách nợ tham lam và tục tằn sẽ đến đây mà xâu xé, tranh giành với nhau những đồ đạc vốn là những người bạn trong cuộc đời êm ấm xưa kia của cháu, cháu tưởng đến cái vẻ mặt buồn rầu ngơ ngác của vợ con cháu trong cảnh tan nát ấy mà cháu không thể nào sống được nữa. Cháu biết rằng, cháu chết đi thì để nỗi xót thương, thiếu thốn cho vợ con cháu, nhưng nghĩ rằng chú là người rất thương yêu cháu, chắc là sau khi cháu chết, chú sẽ đem tấm lòng giời bể kia mà đùm bọc lấy vợ con cháu, nên cháu cũng đành lòng mà nhắm mắt.
Chú ôi, "con chim lúc chết kêu thương", xin chú nghĩ đến cái tiếng gọi cuối cùng của cháu lúc sắp từ giã cõi đời này mà tha hết cả tội lỗi cho cháu cùng là che chở cho vợ con cháu, cho chúng nó khỏi bơ vơ, thì cái ơn cao dày ấy dẫu kiếp này không giả được, kiếp sau cháu cũng xin thác sinh làm thân trâu ngựa để đền bồi.
Trăm lạy chú
Bùi Nguyên
Bùi Nguyên đọc xong bức thơ, vất điếu thuốc lá, mở ngăn kéo lấy ra một con dao cạo.
Trông thấy lưỡi dao sáng quắc, lạnh lẽo kia nó sắp đưa chàng về nơi chín suối, chàng chẳng có vẻ gì rụt rè ghê sợ mà lại cảm ơn nó sắp rũ sạch cho chàng những nỗi đau thương nhục nhằn. Chàng lấy ngón tay cái vuốt khẽ lưỡi dao, xem nó có thiệt bén không. Rồi chàng giơ cổ tay trái lên, tháo cái đồng hồ tay ra. Chàng lại đứng dậy lấy thìa khóa hết các cửa lại. Chàng khóa cửa xong, về ngồi ghế, xếp ba bức thơ gửi cho chú, cho vợ, cho quan tòa vào ngăn kéo rồi cởi áo ngoài ra, vén cánh tay áo sơ mi lên, lấy ngón tay giữa bên phải tìm cái mạch máu cái, chú ý như một vị nguyên soái đang tìm địa thế để triệt hạ quân thù ở trên bức bản đồ vậy.
Trông chàng lúc bấy giờ vẻ mặt nghiêm trang, cả quyết, cử chỉ điềm đạm, chậm chạp, ta tưởng ngay đến một vị y sĩ đang đem hết cái trí thông minh suy xét để xem mạch cho một người bệnh, chứ ta không thể ngờ rằng con người kia đang đi tìm cái chết, đang đi kiếm cái huyệt hiểm yếu để cầu lấy một cái chết chắc chắn, ta không thể ngờ rằng kẻ kia đang kiếm cách để làm cho bao nhiêu máu nóng trong người sẽ trào ra hết, khiến cho cái thân thể mạnh mẽ hồng hào kia sẽ trở nên một cái thây ma lạnh lẽo xám xịt.
Tử huyệt đã tìm được rồi. Bùi Nguyên lấy ngòi bút đánh dấu mực vào cho nhớ.
Chỉ nhờ một nhát dao mạnh và nhanh là cái mạch máu kia sẽ đứt phăng ra, chàng sẽ ngồi nhìn sự sống nó từ từ rời khỏi thân thể chàng...
Các cửa đã đóng kín không còn ai có thể đến bắt chàng được nữa.
Năm phút... Mười phút...
Chàng sẽ ngã ra. Thế là thoát nợ!
Bùi Nguyên nghĩ đến đấy mỉm cười, một cái cười lạnh lẽo, ghê sợ của ông thần chết. Chàng liếc nhìn chung quanh buồng như muốn cùng các đồ vật kia vĩnh biệt. Chàng cầm lưỡi dao sáng loáng giơ lên, lạnh lùng đều đặn như một cái máy, mắt nhìn vào dấu mực ở cổ tay.
Trông chàng lúc bấy giờ điềm tĩnh quả quyết cơ hồ như không còn sức mạnh gì có thể bắt chàng sống được nữa thì bỗng chiếc đồng hồ quả lắc ở buồng bên đánh mười hai tiếng: mười hai tiếng đều đặn, thánh thót, khắc khoải, trong bầu không khí yên lặng như những tiếng gọi của trái tim vợ con chàng gọi chàng. Tiếng chuông ngân ra như có vẻ khóc than, rền rĩ bắt chàng phải lùi cái chết lại một lúc mà nghĩ đến cảnh thảm sầu đau đớn của vợ con chàng sau khi chàng chết. Chàng lấy tay khoa khoa như muốn xua đuổi những cái hình, ảnh ghê gớm, đau thương, những cái ai oán, não nùng ấy đi để cho chàng được thảnh thơi mà chết. Chàng khoa tay mạnh quá thế nào đụng phải bức ảnh của vợ con để ở góc bàn, rơi xuống sàn đánh độp một tiếng. Chàng nẩy mình, cái giật mình của một kẻ đang làm một việc gì bí mật trong chỗ kín mà bỗng có tiếng động. Không biết tại làm sao - có lẽ cái bản năng nó sai khiến- chàng vội vàng nghiêng mình lấy tay nhặt lên, rồi chàng nhìn...
Vẻ mặt xinh xắn, tươi tỉnh của vợ con chàng lồ lộ ra ở trong ảnh khiến chàng phải sửng sốt, đau đớn. Chàng tự xét mình không đủ can đảm ngồi nhìn những vẻ mặt yêu mến, xinh xắn, tươi tỉnh kia sẽ phải buồn rầu, nhăn nhó sau khi mõ tòa đến tịch biên cơ nghiệp chàng. Chàng tưởng tượng đến phải mục kích những nỗi thiếu thốn nghèo nàn mà sau này vợ con chàng phải chịu mà chàng ghê sợ. Nhất định là chàng phải chết.
Nhưng nghĩ rằng trong bao nhiêu năm giời, vợ con chàng đã đem hết một tấm lòng yêu chàng, khiến cho đời chàng trong thời hạn ấy thật đã được hoàn toàn sung sướng, chàng lại muốn trông thấy mặt một lần cuối cùng nữa.
Chàng giở bức thư viết cho vợ lúc mười giờ (nghĩa là sau một giờ khi cả quyết tự tử) ra đọc lại xem nó đã đủ để an ủi vợ chàng sau khi chàng chết chưa.
Chàng đọc xong bức thơ, lấy chìa khóa sẽ mở cửa rồi vào buồng vợ.
Ngọn đèn Philipp xanh mười lăm nến như muốn đem bọc cả đồ đạc vào trong một hào quang ấm áp, êm đềm. Bùi Nguyên sẽ rón rén đến cạnh giường mở tấm màn tuyn. Mùi hương thơm tho ở trong thoang thoảng bay ra.
Trên cái nệm trắng, người thiếu phụ đang thiêm thiếp một giấc hòe nhẹ nhàng, thú vị. Cái coocsê mầu hồng mỏng và ngắn như bó lấy khổ người óng ả hồng hào...
Bùi Nguyên đứng nhìn cái tòa ngọc thiên nhiên ấy, trông cái sắc đẹp biến thành người mà toàn thân nửa hở, nửa kín như thúc giục tấm lòng thờ cái đẹp, yêu cái đẹp mà chàng động tâm. Có lẽ lòng cả quyết muốn buộc mình vào ông thần chết đã giết sống lòng mỹ cảm của chàng chăng? Trên vẻ mặt lạnh lùng khắc khổ kia, trước cái cử chỉ điềm tĩnh ấy, ta không thấy một triệu chứng gì tỏ cho ta biết rằng con người đứng kia đã xúc động.
Về khuya, giời hơi lạnh, Bùi Nguyên sẽ lấy cái chăn gấm mỏng phủ lên bụng cho vợ, thở dài một tiếng rồi quay sang buồng con.
Thoạt mở màn chàng đã được thấy một cảnh tượng rất ngộ nghĩnh nên thơ. Thằng Tý tròn trĩnh bầu bĩnh như một con búp bê nằm ngửa tênh hênh bắc chân lên một con voi bằng cao su to gần gấp đôi nó (dễ thường tối nào nó cũng phải có con voi ngủ chung thì mới được ngon giấc). Trên cái khuôn mặt bánh dầy, đôi má hây hây đỏ phảng phất như trái đào. Dưới đôi lông mày, cặp mắt ti hí như bà mụ đang dậy nhìn những cảnh thần tiên mơ mộng ở tận đâu đâu. Đôi bàn chân nhỏ nhắn, xinh xẻo, thanh tao giời sinh ra chẳng phải là để giẫm lên chông gai, bùn lầy ở trên cõi đời nhục thế này. Hai cánh tay mềm mại, trông nung núc, như chỉ để ôm lấy cổ những người yêu quý nó mà ghì vào ngực. Toàn thể các bộ phận đại để còn là trong cái thời kỳ phôi thai, nhưng nếu giời để cho sống làm người, hay ăn chóng nhớn, thì chứa chan biết bao nhiêu là hi vọng.
Thằng Tý nằm chếch về một bên giường, tay co, tay duỗi, tóc thì bơ phờ trông mấy "ghét" làm sao! "Ghét" đến nỗi ta phải mắng yêu ngay một câu: "Thằng con chó". Mà "chó" tệ. Toàn thể cái gì trông cũng ngây thơ, dễ thương lắm.
Ai cũng phải nhận rằng cái cảnh tượng một vị giai nhân đang say giấc nồng là đẹp nhưng kể ra thì một đứa bé nằm ngủ - mà một đứa bé như thằng Tý - còn có vẻ thần tiên hơn nhiều.
Bùi Nguyên tưởng tượng sắp phải từ giã đứa con kháu khỉnh ngoan ngoãn như thế kia mà lòng chàng bồn chồn, sôi nổi. Chàng sẽ ngồi ghé xuống giường rồi cúi đầu hôn con. Có lẽ lúc ấy thằng Tý đang mê một giấc đánh nhau với ông ộp, ông Ngáo gì đó mà khi cái hôn âu yếm kia vừa đặt lên gò má lại trúng ngay với cái thời kỳ trong mộng, nó liền dang hai cánh tay yếu ớt ra ghì chặt lấy cổ Bùi Nguyên mà hét to:
- Thày đánh chết nó đi cho Tý nhé!
Rồi hình như nó đã được ẩn dưới một cái sức mạnh rất có hiệu lực của một người cha yêu nó mà che chở cho nó, cái giọng sợ hãi hớt hải đã tiêu tán đi mà nhường chỗ cho cái giọng vui vẻ đắc chí, đắc chí với kẻ thù vô hình rằng: "Tao đã gần thày tao, thì mày liệu hồn". Nó lại như có vẻ khiêu khích ú ớ nói:
- Mày dám lại đây thì thày tao đánh mày chết.
Rồi như muốn thực hành ngay cái lời dọa của nó khi nó đã chắc dạ có thày nó ở bên cạnh, nó co chân đá một cái. Khổ cho con voi vô tội, bị đá, kêu đánh "bịch" một tiếng. Có lẽ giấc mộng của thằng Tý đến đấy là hết, nên nó lại ngủ, cứ ôm cổ thày nó mà ngủ.
Bùi Nguyên thấy hai cánh tay bé bỏng của nó ghì chặt lấy cổ chàng như muốn đem da thịt nó mà nhập làm một với da thịt chàng, chàng thấy cái hơi thở thơm tho của nó như một luồng gió ở trên cung tiên đưa xuống, đánh tan những nỗi u sầu thảm khốc chứa chất ở trong lòng chàng. Nhưng câu nói rất ngây thơ của thằng Tý trong khi nằm mê khiến cho chàng nghĩ đến cái chết mà ghê sợ, không phải là ghê sợ vì phải chết, ghê sợ rằng khi chết rồi thì lấy ai làm cái bình phong đón lấy những nỗi đau thương, những sự khó khăn để che chở cho đứa con còn măng sữa kia, trên bước đường đời chông gai gió bụi này. Chàng tự hỏi chàng có quyền bắt đứa con kia phải bơ vơ, khốn khổ, đau xót, nhục nhằn về cái chết của chàng không? Nghĩ đến đây, mồ hôi đổ ra như tắm.
Bùi Nguyên sẽ lấy tay gỡ cánh tay con ra. Cái cánh tay yếu ớt mà mạnh mẽ làm sao!
Chàng sẽ đứng dậy, hai mắt đăm đăm nhìn con. Rồi hai giọt nước mắt mà ta có thể nói rằng hai giọt máu mắt đầu tiên trong đời chàng dần dần nổi lên ở khóe mắt, rồi lại từ từ rơi xuống gò má. Chàng sẽ lấy tay gạt nước mắt, cúi đầu hôn con rồi trở về buồng giấy, cầm ba bức thơ tuyệt mệnh xé nhỏ, ném vào sọt giấy...
Ngoài đường, mấy bác phu xe vẫn co ro ẩn ở dưới mái hiên mà hạt mưa gieo trên nóc nhà vẫn đều đặn tí tách như không quan tâm gì đến sự đổi thay của lòng người.
Rút từ tập truyện ngắn
Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích
Trung Bắc xuất bản, 1935.
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

TâM HồN Mẹ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Khi Đăng hai tuổi mẹ nó chết đột ngột vì sốt xuất huyết. Vì thế, hình ảnh của nó về một người mẹ rất mơ hồ. Nó ở với ông bà ngoại. Bố nó đã đi lấy vợ khác, chỉ thỉnh thoảng mới đến thăm nó. Đăng hình dung mẹ theo cách nghĩ riêng của nó. Nó hay xét nét sự quan tâm săn sóc của những người xung quanh nó bằng cách đặt ra câu hỏi : nếu là mẹ sẽ thế nào? Chẳng hạn, lúc tắm bà ngoại kỳ cọ kỹ quá, nó nghĩ ngay rằng nếu là mẹ thì không làm thế. Mẹ chỉ gội đầu và kỳ cọ những chỗ chủ yếu, còn ở chỗ khác thì mẹ để cho nó làm lấy ăn cơm cũng vậy, nếu là mẹ thì không làm như ông ngoại. Ông ngoại không hiểu nó không thích lạp xường, đáng lẽ đừng ép thì đằng này ông lại ép, nổi giận và cuối cùng ông chén luôn miếng lạp xường. Nó không tiếc miếng lạp xường, nó chỉ tủi thân vì ông không hiểu nó.
Bây giờ khi lên bảy, Đăng hiểu không ai có thể cư xử săn sóc cho nó như là mẹ được. Thường mọi người làm quá yêu cầu hoặc cư xử với nó không thật đến nơi đến chốn. Cả hai cách ấy đều buồn. Nó là đứa bé nhạy cảm, nhạy cảm quá mức, điều ấy thật không tốt. Tuy thế, nó không biết khắc phục thế nào.
Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó. Nó luôn cảm thấy tủi thân. Tóm lại là không thể bằng mẹ. Mẹ thì khác, dĩ nhiên rồi. Mẹ là hình ảnh tuyệt diệu, nó không hình dung là sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nó cảm nhận được. Trong số bạn bè ít ỏi của Đăng có Thu. Thu bảy tuổi, có bố mẹ, có cả em nữa. ở trong hoàn cảnh như thế nên ý nghĩ và tình cảm của Thu khác nó.
Thu hồn nhiên và khá tự do. Nó có thể đi chơi mà chẳng cần phải định giờ về. Nó khác Đăng. Đăng bị một loạt qui định kìm giữ. Ông bà ngoại Đăng luôn luôn căng thẳng trong trách nhiệm với đứa cháu mình. Từ việc chơi với Thu, điều này thật vô hại mà ông bà cũng đe nẹt, cấm đoán nó. Thu có đôi tai hồng và đôi mắt đen nháy. Không hiểu sao Đăng rất thích được ve vuất đôi tai hồng ấy và nhìn sâu vào đôi mắt đen nháy ấy. Mày nhìn như nuốt tao ấy. Mày tìm cái gì ở đấy
Đăng bối rối. ừ, nếu là mẹ thì chắc cũng có đôi mắt như vậy. Không thể khác được.
- Không, tao không tìm gì cả. - Nó đánh trống lảng. - Này, mày có hay khóc không?
- Thỉnh thoảng. Phải có cái gì mới khóc chứ. Ai lại tự nhiên đi khóc bao giờ?
Thế mà thỉnh thoảng tao lại tự nhiên khóc đấy - Đăng nói. Nó cố ngẫm nghĩ xem có lần nào nó tự nhiên khóc không?
- Đấy là hồn của mẹ mày. - Thu nghiêm trang nói. Nó đã nghe đến chuyện người ta gọi hồn. - Hồn mẹ mày về bảo : "Này Đăng, con khóc đi, khóc đi cho vơi nỗi buồn... " - Nỗi buồn là gì? - Đăng hỏi. - Không biết, nhưng nó cũng giống như đánh mất cái gì. Hôm qua tao đánh mất cái cặp tóc, thế là tao buồn.
Tao đánh mất thì tao không buồn. - Đăng kiên quyết. - ông ngoại tao bảo : "ở đời người ta đánh mất nhiều thứ lắm. Người mất của cải, người mất tâm hồn... "
- Tâm hồn là gì?
- Nó ở đây này - Đăng chỉ vào bụng.
- Trong bụng người ta toàn cứt. - Thu thở dài. - Mẹ tao bảo thế. Nếu thế thì kinh quá nhỉ ?
- Đấy là mẹ mày nói bậy nói bạ thế thôi. - Đăng an ủi. - Tâm hồn nó giống như dây đàn ấy, ông ngoại tao bảo thế, khi có ngọn gió thổi đến thì nó rung lên khe khẽ : a-a-a-a...
Tâm hồn mà kê u a-a thì hay thật. - Thu cười như nắc nẻ. Nó nhắm tịt mắt lại và nhại : a-a-a-a...
- Mày chắng hiểu gì cả. - Đăng bực dọc. - Mày không có tâm hồn. Mày giống mẹ mày ấy. Mẹ mày chỉ thích tiền thôi.
- Có thế thật. - Thu công nhận. - Có thể mẹ tao không có tâm hồn thật dấy! Chẳng cần ! Mà có tâm hồn làm gì. Khi gió thổi đến nó lại kêu a-a thì kinh lắm. - Thu lại cười nắc nẻ. Đăng nhíu lông mày lại. Nó không thích Thu trêu nó. Nó bảo :
- Mày cười như thế là đủ rồi đấy. Con gái hay cười là vô duyên lắm...
- Vô duyên thì làm quái gì?
- Vô duyên thì ế chồng đấy.
- Thằng quỷ ạ. Mày như cụ non ấy! - Thu phát cáu, từ trong tiềm thức mơ hồ của nó, bản tính tự nhiên giục nó tìm cách trả thù bằng cách cố ý soi mói độc ác.
- Mày là thằng mồ côi. Mày cay nghiệt lắm!
Đăng sững lại, mặt nó tái đi. Thu chọc mũi kim vào nơi nó đau nhất. Nước mắt nó trào ra, đôi môi run rẩy, tái dại. Thần sắc của nó biến đổi khiến Thu hoảng sợ.
- Này này, tao đùa đấy... Hơi tí đã khóc. Thôi, thôi, nếu như mày muốn thì tao sẽ có tâm hồn. - Thu bối rối, nó bắt đầu phịa ra câu chuyện tưởng tượng để dỗ bạn. - Đúng thế đấy, tối qua tao nghe thấy ở đâu đây vang lên âm thanh rất khẽ : u-u-u- u. Tao không hiểu tiếng gì... Từa tựa như gió thổi ngoài đầu hồi... Có thể đấy là tiếng tâm hồn của tao chăng?
Đăng lắng nghe và nhậ n ra vẻ bối rối của bạn. Nó biết Thu phịa. Nó cảm thấy bị xúc phạm. Nó khóc to lên. Thu cũng òa khóc theo. Nghe thấy tiếng khóc, bà ngoại Đăng chạy xuống. Bà giận dữ nhìn Thu. Bà giang tay tát thẳng vào cái má trắng nhợt của đứa bé. Đăng hé mắt nhìn và không hiểu sao các vết đỏ trên má Thu làm nó nhớ đến năm cánh hoa mà có lần nó vẽ bằng bút dạ.

*
Vào lớp một, Đăng và Thu ngồi cùng một bàn. Với sự tiếp nhận thế giới xung quanh, Đăng luôn luôn cảm thấy thua kém Thu nhiều mặt. Thu dễ hòa hợp với bè bạn hơn. Nhận thức bài học cũng vậy Thu nhận thức nhanh hơn. Vô hình chung, Đăng cảm thấy có sự lệ thuộc nào đấy vào bạn. Một cách không tự giác, Thu như chỗ dựa cho Đăng về mặt tinh thần. Thu đứng ra bảo vệ cho Đăng trước các địch thủ trong lớp, nó nhắc nhở Đăng trong việc chuẩn bị bài vở. Cho đến lúc nào đó, Thu còn như lạm dụng vai trò của nó với Đăng. Bạn bè trong lớp đã chế giễu chúng:
- Cái Thu là mẹ, Thằng Đăng là con! Cái gì thằng Đăng cũng đều hỏi mẹ ! Những lời như thế đầu tiên làm Đăng phẫn nộ.
Sau đó quen đi, một phần cũng do bản tính thụ động. Dần dà trong ý thức, Đăng có sự nể vì đặc biệt đối với Thu, sự nể vì đáng lẽ dùng cho người lớn. Thu rất tự hào về vai trò của nó đối với bạn. Nó nói với Đăng:
- Tao là mẹ mày ! Thật đấy! Chúng nó nói không sai đâu !
Đăng cười bối rối, nó không tin Thu có thể trở thành mẹ. - Tuy thế, nó không bác lại. Thật ra, nó cần có mẹ. Ông ngoại nó nói : "Mỗi người đàn bà đều có thiên tính người mẹ". Thu có thể thành mẹ được không?
ít lâu sau xảy ra chuyện này: Lần ấy, cô giáo tổ chức cho lớp học cắm trại ở mãi ngoại thành.. Đăng và Thu bị lạc. Trời tối nhanh. ở cánh đồng, những bụi cây lúp xúp cứ sẫm dần và ánh lân tinh dưới cánh nhừng con đom đóm nhấp nháy. Thu khóc, nó ân hận vì tự nó nảy ý kiến đi xa.
- Im đi. - Thằng Đăng cáu. - Khóc cũng chẳng ăn thua. - Nó thở dài, - Tao đói quá ! Mày có cái gì ăn không?
- Chẳng có, - Thu trả lời. - Tao cũng thấy đói.
- Nếu là mẹ thì phải chuẩn bị đầy đủ cho một chuyến đi. Chí ít cũng là lương thực... - Đăng giễu cợt, nó cố ý nói rất độc ác. - Mày chẳng có trách nhiệm gì với tao cả. Lại khóc nữa. Mày là một bà mẹ tồi.
Thu nín khóc, nó lục lọi túi áo rồi đắc thắng:
- Có cái kẹo ! Đúng rồi, tối qua dì Hải tao cho tao cái kẹo và tao quên mất. - Nó giành được chủ động nên bình tĩnh lại. - Thực ra không phải tao quên, tao chuẩn bị rồi tao cố ý quên đi.
Đăng ngờ vực. Nó bóc cái kẹo cắn thử. Đúng kẹo thực, mà kẹo chanh. Có thể Thu là mẹ thật chăng? Mẹ bao giờ cũng tìm ra được một cái gì trong những hoàn cảnh khắc nghiệt. Nó cắn một nửa, một nửa đưa cho Thu và nó vừa dùng đâu lưỡi lăn lăn nửa cái kẹo trong miệng vừa suy nghĩ. Nếu có lửa. - Nó bắt đầu trò đùa theo cách của nó, cũng là một thể nghiệm theo cách của nó. - Nếu mày là mẹ thì mày thử nghĩ xem sao? Thu bối rối. Không thể lật túi để tìm bật lửa. Vận may chỉ đến có một lần thôi, dưới hình thức cái kẹo... Nó nhíu mắt suy nghĩ.
- Cứ đi đi. Sẽ có lửa đấy, tao sẽ tìm ra lửa.
Đăng cười buồn rầu, nó nói một cách nghi hoặc :
- Nếu mày tìm được lửa thì mày là mẹ thật. - Nó bật cười. - Và tìm ra lửa thì tao sẽ nghĩ ra cách để cho người ta tìm thấy chúng mình.
Chúng vừa nói chuyện vừa đi men theo bờ ruộng. Chúng đi vào một khoảng đất trống có những nấm đất tròn u ám, lạnh lẽo. Đấy là bãi tha ma. Cái Thu chợt nhớ, năm ngoái nó đi theo dì Hải về quê tảo mộ bà nó. Cũng bãi tha ma thế này. Người ta đốt hương sau khi đắp mộ và vứt diêm đi.
Đăng thì thào:
- Mày có sợ không... ? Tao sợ...
- Đừng sợ. - Thu nói khẽ, giọng nó lạc đi. - Tao với mày đi tìm ở cái mả mới kia kìa. ở đấy sẽ có lửa đấy.
Chúng đến hên một cái mộ mới đắp. Hoa tươi đầy ắp quanh mộ, những chân hương mới cắm đầy.
- Đây rồi ! - Thu kêu lên. Nó đã tìm thấy một bao diêm cũ, trong bao có chừng hơn một chục que. Phấn khởi làm cho hai đứa quên cả sợ hãi.
Đăng thán phục :
- Mày tài thật! Sao mày lại nghĩ có diêm ở đấy?
Thu cười. Bây giờ nó là mẹ rồi. Mẹ thì được quyền giấu con những điều bí mật. Nó bảo:
- Mày không biết đâu. - Nó hãnh diện nói. - Vì tao là mẹ.
Đăng vơ củi rác, nó ủ bao diêm vào áo cho hết hơi ẩm rồi châm lửa đốt.
Khoang nửa giờ sau cô giáo tìm ra hai đứa.

*
Chuyện của trẻ con thì người lớn không nên cắt nghĩa vì lôgic của trẻ con là lôgic huyền thoại không tiền khoáng hậu. Người lớn bị thực tế khắc nghiệt làm mất đi sự mong manh của lôgic huyền thoại, thay vào là thứ lôgic xám xịt, rạch ròi. Ông bà ngoại Đăng thương chiều nó. Nó là của quý. Những thói hư tật xấu của nó thường bị ông bà nó đổ lỗi cho Thu. Tính lông bông ương bướng, thói giễu cợt, sự lười nhác, thậm chí cả việc chậm hiểu của đầu óc nó cũng do bạn nó. Đăng biết ông bà ngoại nó nhầm. Càng lớn lên nó càng bướng bỉnh, càng cô đơn và càng nhạy cảm hơn về thân phận côi cút của mình.
Một bữa, Đăng đánh vỡ tan ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ. Bà ngoại tiếc của mắng nó : - Đồ hậu đậu. Tất cả là từ cái con mẹ Thu nhãi ranh của mày. Đăng trào nước mắt, nó uất ức, tủi cực. Nó trốn xuống bếp ngồi trong bóng tối và tức tưởi khóc. Trên nhà bà ngoại của Đăng vẫn đang điên cuồng gào thét. Có tiếng tầu điện sầm sập chạy nhanh ngoài phố. Bỗng ý nghĩ về cái chết bật ra rất nhanh trong Đăng. Đúng rồi ! Ngã xuống dưới đường ray! Cái khối sắt đồ sộ lướt qua và thế là hết. Chẳng phải làm gì, chẳng phải nghĩ ngợi. Mười phút nữa sẽ có chuyến tầu đi qua. Điều cần nhất là báo cho Thu. Nó là bạn tốt. Nó cắt nghĩa được cái chết. Ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ có nghĩa lý gì ? Phúc-Lộc -Thọ có nghĩa lý gì ? Đăng len lén mở cửa rồi chạy ra đường. Cái tầu điện cách ba trăm mét. Thu đứng ở vệ đường.
- Mày sao thế? - Thu ngơ ngác.
Đăng chấp chói. Mặt nó tái đi không còn thần sắc. Cái tầu điện lướt qua. - Tròi ơi - Thu đẩy Đăng ra rồi ngã vật xuống.
Nó ngất đi.

*
Đăng không chết, vì do Thu đẩy ngã. Còn Thu lại bị tàu điện cán gẫy nát chân. Người ta đưa cả hai đứa đi viện. Đăng sốt cao, suốt đêm cứ vật vã nói mê liên hồi :
- Mẹ... mẹ... mẹ... mẹ...
Tiếng "mẹ" của nó như tiếng gió thổi ở ngoài đầu hồi.
Trong giấc mơ, Đăng thấy Thu với nó đứng ở trên cao. ở đấy nhìn xuống thấy người bé xíu, những chiếc ô tô cũng bé xíu. Gió lồng lộng, Thu cười nắc nẻ, hàm răng trắ ng bóng. Thu bảo :
- Này Đăng, tao sẽ đi trên khoảng không bằng đôi chân này. - Nó chìa đôi chân trần ra trước mặt Đăng. - Đi như bay ấy, như trong chuyện cổ...
Nói xong, Thu đi thật. Nó bước vào khoảng trống không, hai tay bơi rẽ không khí. Đăng áp người vào hàng lan can, cảm gi ác cô đơn côi cút làm nó ớn lạnh. Nó gọi Thu :
- Đợi với! Đợi tao đi với ! Hãy bảo tao đi như thế với- Hãy bảo tao đi như thế với!
Thu bay lướt đi, nó bảo : Mày không đi được thế đâu ! Hiểu không? Vì tao là mẹ.
Đăng giật mình dậy. Giấc mơ qua đi. Nó mở mắt ra nhìn kỹ căn phòng bệnh viện. Cạnh Đăng, ông bà ngoại nó đang chăm chú nhìn. Nó bỗng rùng mình vì thấy mắt của hai người trong suốt. Đăng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời xanh ngăn ngắt. Trên sợi dây thép phơi áo, có ngọn gió nào rung khẽ. ở đấy vọng lại những tiếng thì thào, thính tai lắm mới nghe thấy được :
U...u... u... u...
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Sáng, chị phu mỏ

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Rửa xong bát đĩa, Sáng cầm đèn hoa kỳ vào buồng, đặt trên mặt hòm, rồi mở màn, bảo mẹ:
- Bu ở nhà, con đi đằng này một tý nhé.
Bà già như đã đoán được ý con, cựa mình nằm quay mặt ra ngoài, rên rỉ, nói:
- Thôi, con ạ, không thuốc thang gì nữa đâụ Đừng đi vay mượn, rồi lại mắc nợ. Bu đã qua cầu ấy, bu sợ lắm.
Sáng thở dài, sờ lên đầu mẹ, rồi nhăn nhó, nói:
- Thế này mà bu cứ không chịu uống thuốc. Bu sốt nặng hơn ban trưa đây mà.
- Tại bu đắp nhiều chăn đấỵ Cứ để vậy, rồi khỏị Bu không muốn để nợ cho con đâụ
- Bu đừng tiếc tiền. Hôm kìa, hôm kia, bu uống luôn hai chén, nên đã gần khỏị Giá bu cứ để con đi xoay xỏa, lấy tiền cân hai chén nữa, thì chắc hôm nay cất cơn rồị
Mẹ Sáng cảm động, lắc đầu, nắm lấy tay con:
- Bu thấy tình cảnh nhà thế này, bu chả muốn thuốc thang tí nào cả. Uống chén nào vào mồm, đeo nợ chén ấy, thì uống làm gì.
- Nợ thì rồi giả, chứ có ăn không uống không của ai mà bu ngạị Vả lại con giật tạm của các chị ấy, chứ có vay của ông cai Nhã đâụ
- Mày nói dốị Bu lại không rõ tất cả các phu phen làm ở mỏ này hay saọ Ai thừa tiêu cho mày giật mượn được. Thầy mày ngày xưa làm ở đây hơn hai mươi năm, thật là ăn tiêu vắt cổ chày ra nước, thế mà lúc bị sập lò chết đi, còn để lại món nợ, giả mãi mới hết.
Sáng thở dài, đáp:
- Bu để yên con nói cho mà nghẹ Có phải con hỏi mượn một người đâu, mà bu chắc rằng không có. Con vay mỗi chỗ một tí, cho nên dễ, bu ạ.
- Thế rồi lấy gì mà giả?
- Rồi kỳ lương này, con trang trải thế nào cũng xong. Bu cứ yên tâm.
Bà già lắc đầu, thương hại con, hổn hển thở:
- Tao bảo mày cứ không nghẹ Vừa trưa hôm nay, tao thấy mày bàn nhau với chị Nhân là vay ông cai Nhã kia mà. Nợ ai, chứ nợ lão ấy thì khổ đấy, con ạ.
- Con biết rồị Con đã bảo con không vay ông ấy đâu mà.
- Nhưng mà cũng không được vay đâu cả. Liệu mà nghỉ ngơi, rồi đi ngủ, sáng mai còn đi làm.
Rồi bà than thở một mình:
- Hai hôm nay, gạo đã phải đi vay rồi, bây giờ lại còn cắt thuốc cho mẹ. Nhục quá, nghèo ơi là nghèo!
Bỗng hai dòng lệ ứa ra, làm ngập đuôi mắt, rồi từ từ chảy xuống mang tai, bà nằm quay vào trong, thở những hơi dài thống thiết.
Sáng buồn rầu, nói:
- Bu cứ uống thử thêm hai chén nữạ Bởi vì, nếu tiếc tiền, rồi sốt nặng hơn, thì làm thế nào!
Mẹ Sáng đập tay gắt:
- Đấy, tao kệ màỵ Mày khó bảo quá!
- Được, bu cứ kệ con.
Nói đoạn, Sáng thu dọn trong nhà, hạ các liếp cửa xuống, vặn nhỏ đèn lại, rồi lách ra đường.
+
+ +
Cũng giờ ấy, cai Nhã chờ cho các ký lục trên nhà giấy về hết, mới vào báo cho chủ Nhì biết tin mừng:
- Thưa ông, tối hôm nay, xơi cơm xong, ông có bận việc gì không?
- Không, anh muốn gì?
Nhã ghé gần lại, ti hí đôi mắt lươn, nói nhỏ:
- Cái con bé xưa nay ông vẫn ước ao, tối nay, tôi sẽ dắt vào cho ông.
ông chủ tươi cười, vuốt vểnh bộ râu ngược lên, rồi khoanh tay trên bàn, hất hàm hỏi:
- Con bé nào thế nhỉ?
- Con bé tên là Sáng, vẫn ngồi bên cạnh bà già ở đầu phía tay trái nhà máy ấy mà. Chả có lần ông khen nó đẹp là gì.
ông chủ chợt nghĩ ra, gật gật, đáp:
- Phải, tôi nhớ ra rồi, cái con bé có bộ ngực to bằng ngần này ấy chứ gì?
Hai thầy trò nhìn nhau, cười híp mắt. Nhã nói:
- Chính đấy, tôi vẫn bảo nó là vì ông nhân từ, thương đến ngày xưa cha nó chết về công việc của sở, nên mới ban ơn cho nó vào làm.
- Thế rồi saỏ
- Tôi xem ý nó, thì nó không như những đứa khác. Nghĩa là nó không nhí nhảnh, dễ dãi đâụ
- Thế bây giờ?
- Bây giờ là tôi làm ơn cho nó.
- Anh làm ơn cho nó?
- Phải, vì mẹ nó ốm.
- Saỏ
- Để tôi nói hầu ông nghẹ Ban nãy nó tìm tôi, hỏi vay tôi mấy đồng bạc mua thuốc cho mẹ. Xin ông biết rằng lần này là lần đầu mà nó nhờ tôi về tiền nong.
- Thế nó phong lưu à?
- Không, ông tính làm phu đủ ăn là may lắm, chứ còn thừa thãi sao được. Giá nó không vì mẹ ốm, phải tiêu bất thường và vay loanh quanh bạn hữu không được, thì chưa khi nào nó chịu nói với tôị
- Đó là sự thực, hay nó tìm dịp đến gần anh?
- Tôi mong đó là nó nói dối, thì cách hành động của tôi mới có kết quả. Nhưng, thưa ông, mẹ nó ốm thực.
- Thế anh bảo nó thế nàỏ
- Tôi bảo nó là tôi không có sẵn, nhưng tôi có thể đưa nó đến mượn tiền ông. Nó sợ ông, không dám đi, nhưng tôi đã cắt nghĩa cho nó nghe rồị
ông chủ cười, khen:
- Tốt lắm.
- Phải, dịp tốt đến cho ông trong khi bà về Hà Nộị Tối nay, tôi sẽ lên đâỵ Nhưng điều cần nhất, là ông nên xử trí cho khéo, kẻo con bé ấy tai quái và liều lĩnh lắm.
- Không ngạị
- Tôi nên dặn trước ông thế, vì con Sáng này không như những con trước tôi dắt đến cho ông đâụ
- Được rồị Tôi cảm ơn anh.
+
+ +
Khoảng hơn tám giờ tối, Sáng lo lắng, theo cai Nhã đi trên con đường bò quanh sườn đồi, lên nhà chủ. Chị chẳng biết việc vay tiền chủ có kết quả gì không. Chị liều mà nghe lời Nhã, theo vào chủ để vay tiền. Chị chỉ mong mẹ chị có thuốc uống. Chị biết Nhã vẫn dắt gái đến cho chủ, thì rồi đây, thế nào chị cũng bị mang tiếng. Song, chị chỉ cốt lương tâm biết mà thôị
Đến cổng, Nhã tặc lưỡi, nói:
- Nghề thế, chị nghe chưa, mình đi làm thì phải chiều ý chủ. Tôi thấy chị cứ khủng khỉnh với người trên, như thế không nên.
- Thì cụ bảo cháu làm thế nàỏ
- ồ, cái đó chị nghĩ thì ra chứ. Giá như chị năng đi lại với chủ, có phải lần này chị chả phải nhờ đến tôi mới vay được chủ hay không.
Sáng hiểu ý, không đáp. Chị nhìn xuống chân đồi, chỗ tối om, có những mái nhà tranh xám, là xóm thợ thuyền.
Tới thềm, Nhã bảo:
- Chị chờ đây, tôi vào nói trước đã.
Sáng đứng lại, thở mạnh một cái:
- Chào! Mệt! Giá cụ lên một mình nói hộ cháu cũng được, cháu đỡ phải leo dốc.
Sáng đứng một mình, ngắm cái nhà cao lồng lộng. Chị lạy trời cho chủ bằng lòng cho chị vay lương. Một lát, Nhã vui vẻ ra, vẫy Sáng:
- Được rồị Chủ bảo chị vào mà ký nhận lấy tiền.
Sáng mừng rỡ, trống ngực nổi mạnh:
- Thế cụ vào với cháu chứ?
- Không cần!
Sáng ngần ngại, rồi nói:
- Cụ chờ cháu ở đây nhé.
Cai Nhã trợn đôi mắt trắng dã, gắt:
- Có mau lên không, bắt ông ấy chờ à?
+
+ +
Sáng vừa vào, ông chủ đã làm ngay như mọi bận. ông đến cửa, vặn khóa, bỏ thìa vào túi, và nhăn nhở cười, ôm thốc lấy người con gáị Không nếp tẻ gì cả. Bởi vì ông yên trí là hạng này chỉ là những vật cho ông tiêu khiển khi vắng vợ. Họ với ông cách nhau một trời một vực, thì nói chuyện làm gì cho mất thì giờ. ông là chủ kia mà, cần gì phải tán tỉnh lôi thôị
Nhưng lần này khác. Bỗng ông bị cưỡng kịch liệt.
Sáng quằn quại trong cánh tay ông, kêu to:
- ô hay, ông này mới hay chứ! Tôi vay ông tiền mua thuốc cho bu tôi, sao ông lại làm thế nàỷ
ông chủ không hiểu tiếng, nên mặc kệ. Hai bắp tay ông nổi lên, ông hết sức ghì chặt lấy Sáng, và ghé môi vào má chị. Sáng càng giãy giụạ Chị giận, mặt đỏ bừng bừng. Chị hết sức chống cự lại con quỷ dâm dục. Rồi biết mình yếu hơn, chị nắm được râu ông ta, rứt mạnh, và kêu to hơn, rồi gầm lên:
- ối giời ôi! ông buông tôi ra!
Nhưng đầu tóc chị xổ ra rũ rượị Mà ông chủ vẫn nói những điều bằng giọng dỗ dành. Người ông ta nóng ran, mồ hôi mướt rạ Và vì thế, hai cánh tay trơn như phết mỡ.
Sáng thở hồng hộc. Máu hăng chị sôi lên sùng sục. Chị quào mặt ông chủ, và luồn tuột được đầu ra ngoàị Song, nhanh như chớp, ông chủ lại vồ ngay được chị, làm chị ngã giúi xuống, bị cả sức nặng của cây thịt vạm vỡ nằm đè lên trên.
Biết thế nguy, Sáng hết sức lăn lộn một chập nữạ Chị đạp chân, cựa tay:
- ông buông tôi ra! ông đểu lắm! Tôi tự tử bây giờ!
Song, cuộc vật lộn càng hăng háị Gần đạt đến đích, ông chủ không thạ
Độ năm phút sau, khi hết hơi sức, và biết rằng không thể cưỡng hơn được nữa, chị mới quyết liệt. Chị đã không khỏe để trừ dâm thần, thì chị đành huỷ hoại thân chị để lánh nạn. Chị bèn giơ mười đầu ngón tay cấu mạnh vào cổ họng. Rồi nhăn nhó, chị nằm sóng soài, mệt lử.
ông chủ thấy tấn tình kịch biến thành bi kịch, vội vàng buông người con gái khó bảo ra, và đứng dậỵ
Sáng thở hổn hển rồi im lịm.
ông ta vắt hai tay ra sau, lặng ngắm Sáng. Lúc bấy giờ, ông ta có thể làm gì Sáng cũng được. Song, ông ta đứng yên.
Có lẽ ông ta động tâm, ông ta lau mồ hôi trán, giật khục tay và thở dàị
Hình như lòng nhân đạo trở về với ông tạ
ông ta lắc đầu, vẻ mặt hối hận, lấy hai tay lật Sáng lạị Một tiếng rên rỉ làm ông ta thương hại kẻ yếu hèn.
Trong buồng yên lặng.
Nghĩ ngợi một lát, chòng chọc nhìn Sáng, bỗng ông ta móc túi, lấy ví. Rồi lẳng lặng, ông ta mở ví, thọc bàn tay vào trong ngăn. Giơ ra ánh đèn, ông tìm và bóc tờ giấy bạc năm đồng.
Nhưng vừa lúc ấy, Sáng cựa một cái, rồi ngồi nhổm dậy, thở, hai tay tựa xuống gạch.
Chị không chết, mà cũng chẳng làm sao cả.
ông chủ vẫn nhìn chị. ông đã bớt sợ. Và do đó, bớt thương hạị Bàn tay ông ta vẫn để nguyên trong ngăn ví.
Trong khi ấy, Sáng không dám nhìn ông. Mặt tái xanh, chị quấn món tóc rối, nhặt chiếc khăn rơi, rồi vội vàng đứng dậy ra phía cửa sổ, trèo qua tường và nhảy phắt ra ngoàị
Và cũng trong khi ấy, ông chủ tươi tỉnh, rút bàn tay ra, gấp ví lại, và bỏ vào túị ông nhìn theo Sáng, nét mặt mừng rỡ.
ông mừng rỡ, chẳng phải thấy Sáng vẫn lành mạnh như thường.
ông mừng rỡ là vì đỡ mất toi món tiền suýt nữa vô cớ đền vết thương cho con bé bướng bỉnh.
Tiểu thuyết thứ bảy số 263; 1939

Hết
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

Vua Lũ Đồ Chơi

lamtruyen.com
Truyện ngắn
N ó chưa hề xuống vườn. Đơn giản vì nó đi lại khó khăn, chỉ lết là giỏi. Cầu thang lại có cửa, cài then phía ngoài. Thế giới đối với nó thu hẹp trong căn phòng khoảng 20 mét vuông, nơi mẹ cha nó buồn bã thu giấu một sản phẩm bị hỏng, một hình hài con người mà chẳng ra người.



Những ngày nắng ráo, cửa sổ được mở, màn được vén, nó ngồi ngó xuống vườn và một nỗi khát khao mơ hồ trào dâng trong nó, vỡ tung thành chuỗi âm thanh nhọn hoắt xé toang mầu nắng. Ai nghe cũng phải bịt tai lại.

Mỗi ngày mẹ nó ghé nó đúng năm phút vào buổi sáng và để lại mùi nước hoa váng vất chóng mặt. Cha nó ghé buổi tối, nồng nặc mùi bia. Còn vú Năm ghé ban ngày, vú tỏa mùi xà phòng. Tất cả mọi người đều có mùi gì đó.

Nó có nhiều đồ chơi. Dường như cha mẹ nó tin rằng đồ chơi cứu vãn sự bất hạnh của nó. Toàn đồ chơi đắt tiền - một rừng thú thủy tinh, sứ và nhồi bông. Một ngăn xe điện, tàu hỏa, máy bay chạy pin hoặc điều khiển từ xa... Chủ nhật vú Năm tắm cho thú thủy tinh và sứ. Chúng vùng vẫy trong nước cho đến khi thịt da bóng ánh ngời ngợi rồi bước ra tắm nắng cho khỏi còi xương. Sau đó vú chải lông cho thú nhồi bông. Gấu, cọp, sư tử... đều lim dim mắt khi vú lướt cái lược bé xíu trên bộ lông đủ mầu của chúng. Rồi tất cả vào tủ. Cả thế giới tràn đầy âm thanh, mầu sắc, sức sống trên trang sách trở nên im lìm, bất động trong tủ kính. Ở đó hổ giống mèo, gấu giống chó, chim giống gà... tất cả đều buồn thiu và bất lực.

Một ngày mẹ về quê và đem lên một thằng bé đen trùi trũi, tóc khét nắng, người quắt queo. Nó không ngừng cựa quậy trong bộ đồ mới. Nó có mùi lá cây. Mẹ giới thiệu:

- Đây là thằng Đẹt. Từ nay nó chơi với con cho có bạn.

Thằng Đẹt kinh hoàng nhìn nó:

- Nhưng tui sợ ảnh lắm! Giống như ông kẹ.

Thằng Đẹt nhớ nhà khóc mãi. Nó không chịu mặc áo, cũng không biết uống sữa. Nó ở trần, trèo tuốt lên cái cây cao nhất ngó hướng về quê nhà. Cây dừa ấy lại ở ngay trước cửa sổ phòng nó, chỉ cách sải taỵ Con khỉ trên cây giương mắt ngó nó:

- Đầu anh đựng chi trong nớ mà bự chác rứa?

-...

- Răng còn bé mà lưng còng như ông tui rứa?

-...

- Răng không xuống đây chơi? ở trong hộp hoài chán chết!

Nó lại im lặng. Chưa ai hỏi nó như thế. Trong tấm cửa kính mờ đục hiện ra một cái đầu quá cỡ ngoẹo trên cái cổ khẳng khiu. Tấm thân oằn xuống như không mang nổi sức nặng của bất hạnh. Sáng đó, dẫu trời mát mẻ, người ta cũng nghe tiếng hét. Tiếng hét lảnh lót xuyên thẳng vào nỗi nhớ nhà của thằng Đẹt khiến nó rùng mình. Nó bám chặt vào thân cây dừa như sợ tiếng hét hất nó xuống đất. Hét xong, thằng đầu to há miệng thở. Nom nó quá buồn thảm và thằng Đẹt biết nó vừa khóc. Khóc bằng tiếng hét.

Thằng Đẹt nao nao thương "ông kẹ". Nó vụt xuống đến bên cây chuối, xé lá vấn cái kèn to rồi trèo lên cây dừa thổi toe toẹ Chiếc kèn lá bật lên chuỗi âm thanh vui tai. Nó quẳng kèn vào cửa sổ:

- Thổi đi! Đừng hét! Tui sợ lắm!

Thằng kia bỏ kèn vào miệng nhưng chỉ bật tiếng u u buồn bã. Nó vất kèn trả.

- Không thích hả? Để tui làm thứ khác.

Xế trưa thằng Đẹt quăng vào cửa sổ một con gà và một thằng bé bện bằng lá dừa rất ngộ nghĩnh.

Hôm sau vú Năm báo tin thằng Đẹt đã bỏ trốn về làng. Thằng đầu to ngẩn ngơ ngắm hai món quà bằng lá dừa và trịnh trọng đặt vào tủ đồ chơi của nó.

Đêm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, nó bỗng nghe tiếng huyên náo. Tụi đồ chơi đắt tiền không chịu thằng Lá Dừa đứng cạnh. Lão Sư Tử sứ gầm lên:

- Thằng nhà quê này ở đâu rả Người ngợm bằng lá không đáng một xụ Cả con gà lá nữa. Đuổi đi thôi. Ở với chúng thật đáng xấu hổ!

Tụi kia nhao nhao đồng ý. Bầy chó nhồi bông gồm Đốm, Mực, Vàng, Vá, Berger ngúc ngắc đầu phụ họa. ả Mèo Tam Thể bằng thủy tinh hãnh diện ngắm làn da óng ánh trong suốt của mình õng ẹo:

- Meo... meo... người đâu mà xấu xí!

Thằng Lá Dừa nhìn lũ đồ chơi hào nhoáng trong tủ với vẻ khinh thị:

- Tao đoán tụi bây chỉ tốt mã còn dốt đặc không biết trời trăng gì ráo! Có giỏi trả lời tao ba câu hỏi. Trả lời đúng tao đi. Trả lời sai, tao làm vua tụi mày.

- Vua ư? Còn khuya - Cọp nhồi bông thách thức.

- Vậy nghe đây! - Lá Dừa chống nạnh hỏi - Trời mầu gì?

- Dễ ẹt! Mầu nâu - Thỏ xám nhanh nhẹn trả lời rồi nhìn lên nóc tủ.

- Đó là tủ, không phải trời. Đúng là ếch ngồi đáy giếng ngỡ trời mầu nâu!

- Thế mầu gì? - Nai thủy tinh ngơ ngác.

- Mầu xanh. Tao đội trời luôn tao biết. Còn đất mầu gì?

Lũ thú dè dặt ngó nhau. Chúng sợ trả lời sai nữa. Thằng đầu to cũng hồi hộp. Nó chưa hề đặt chân lên đất. Chó Berger nổi tiếng thông minh ngúc ngắc đầu suy nghĩ rồi nhìn xuống chân, đáp:

- Đất trong vắt.

- Sai nữa. Đó là mặt gương chứ không phải mặt đất.

- Chứ đất mầu gì? - Chuột Túi nôn nóng. Con nó cũng ló đầu ra khỏi túi, dỏng tai nghe.

- Đủ mầu. Tùy cái phủ lên nó. Có nơi xanh ngắt, có nơi đỏ quạch, có nơi trắng như tuyết...

- Ngộ nhỉ! Chắc đẹp lắm! - Lũ thú xôn xao.

- Còn đây là câu cuối cùng - Rừng là gì?

Bọn thú đồ chơi bối rối. Thằng Lá Dừa gạ ý:

- Chỗ tụi bây ở đó mà!

- Thế thì dễ ẹt! Rừng là tủ - Gấu đen hớn hở đáp.

Lá Dừa gập người cười. Con Gà trống cũng đập cánh cười phành phạch "o... Ó... O... ngu ơi là ngu!". Lá Dừa nghếch mặt:

- Đồ mất gốc! Quê quán cũng không biết. Rừng bao la, bí hiểm chứ đâu như xó tủ này. Phải cho tụi bây đi thực tế thôi!

Từ đó, thằng Lá Dừa trở thành vua lũ đồ chơi. Nó xáo trộn khoảng không gian chật hẹp, khuấy động sự im lìm bất động. Ban đêm là ban ngày của chúng. Đúng 12 giờ khuya, Gà trống lá đập cánh gáy vang: "o... Ó... O... sáng rồi, dậy đi học thôi!". Lũ đồ chơi lục tục dậy. Chúng leo lên chiếc tàu hỏa có sáu toa và một ống khói chạy bằng pin. Thằng Lá Dừa vừa lái tàu vừa dậm chân hát:

Đất trời mênh mông,
Đi đâu chẳng được,
Nhưng cũng phải ghé,
Về nhà bú tí,
Xình xịch... xình xịch...
o... Ó... O... meo meo... gâu gâu...

Lũ đồ chơi hào hứng phụ họa. Xe lửa chở chúng vào rừng. Trở về bao giờ chúng cũng mệt nhoài và lấm lem. Chúng gác chân lên nhau ngủ mê mệt.

Chủ nhật vú Năm tắm cho chúng. Vú càu nhàu: "Đứng trong tủ sao bẩn thế này! Còn thằng bé và con gà lá này ở đâu rả Xấu quá! Vú quẳng đi nhé!"

Thằng bé lắc đầu quầy quậy. Nó biết đó là vua lũ đồ chơi. Vua điều khiển chúng không bằng pin, dây cót... mà bằng ý tưởng. ý tưởng thổi sinh khí vào lũ đồ chơi lạnh lẽo, bất động, bóng ngời. Chúng trở nên tò mò, siêng năng học hỏi để trở thành chúng. Chim Cánh Cụt loạng choạng tập đi, cánh vẫy liên hồi, mơ tới vùng tuyết trắng. Bầy Chó nhồi bông học phát hiện kẻ gian, học yêu thương, trung thành. Chim Sơn Ca học hót để tiếng chạm trời xanh. Chuồn chuồn học bay thấp bay cao để dự báo thời tiết...

Thằng Lá Dừa là một giáo viên dạy giỏi. Nó biến kiến thức thành thơ con cóc tuốt nên rất dễ thuộc.

Mèo thủy tinh ê a:

Mì bơ, cá rán đều ngon tuyệt
Nhưng đứng đằng sau thịt chuột!

Gấu nhồi bông vừa liếm chân vừa gật gù:

Mùa hè tha hồ chén mật
Rừng thơm lựng tựa lẵng hoa
Nhưng nhớ ngủ đông đấy nhé
Băng giá chẳng có gì xơi!

Thỏ trắng vừa nhảy nhót vừa học bài. Nó thông minh nên luôn "chế biến" bài học để tăng giá trị của mình:

Trong rừng ai khôn hơn tho?
Thấy động cụp đuôi chạy ngay
Trong bụi vểnh râu nghĩ kế
Cọp, beo, sư tử thua ngay!

Sư Tử tự ái gầm lên:

á cha! Ta đây chúa tê?
Thịt thỏ chế biến thơm ngon
Bỏ ngay cái thói hợm hĩnh
Kẻo mà chỉ còn nhúm lông!

Căn phòng hai chục mét vuông trở thành trường học vui nhộn. Thằng bé đầu to lang thang cùng lũ đồ chơi và thuộc cả bài của chúng. Một hôm, thằng Lá Dừa xướng bài học mới:

Đất trời mênh mông
Cuộc đời ngắn ngủi
Trèo lên xe lửa
Ta cùng đi thôi!
Vừa học vừa chơi
Để cho khỏi dốt
Chớ có ngồi buồn
Đất trời bé lại.

Lũ thú đồ chơi nhao nhao hỏi bài đó dành cho ai. Lá Dừa đáp: "Cho vua của chúng tạ Vua đầu to lắm, chứa đầy thông minh. Sau thành thiên tài".

Không biết vua đầu to của chúng có trở thành thiên tài không nhưng một thời gian sau người ta không nghe những tiếng hét giữa trưa nữa. Từ căn phòng ấy vọng ra tiếng đàn non nớt, ngượng nghịu rồi vững vàng dần và cuối cùng bay bổng.

Thằng Lá Dừa yếu dần, người nó mỏng tang, khô giòn, chạm tới là rã. Cơ thể nó bằng lá nên cuộc đời ngắn ngủi hơn thú thủy tinh và nhồi bông. Một ngày nó nói với lũ đồ chơi: "Tao đã hoàn thành nhiệm vụ. Giờ tao phải về nhà". Vua đầu to và lũ đồ chơi làm một bữa tiệc đưa tiễn. Ở đó không có nước mắt mà chỉ ngập thơ con cóc và tiếng đàn. Tiệc tàn, vua đầu to đặt thằng Lá Dừa trên chiếc máy bay giấy phóng qua cây dừa. Chiếc máy bay chở theo tiếng hát yếu ớt:

Đất trời mênh mông
Đi đâu cũng được
Nhưng cũng phải ghé
Về nhà bú tí.

Gió thổi. Lá Dừa khô quắt, nhẹ tênh, thanh thản là là rơi xuống đất. Một thằng bé đi qua dẫm lên... Lá Dừa tan thành bụi. Khó ai ngờ nhúm bụi mục nát ấy từng làm nên điều kỳ diệu - Biến tiếng hét đớn đau cuồng nộ thành tiếng đàn thánh thót dịu dàng, khiến chim sơn ca bằng thủy tinh cất tiếng hót lảnh lót chạm thấu trời xanh, chạm tới giấc mơ của những chú bé!

6-1996



Hết
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com

LÀM NGƯỜI Ở LẠI

lamtruyen.com
Truyện ngắn
Mười một giờ rưỡi, trời Sài Gòn tháng tư như đem người ta nhúng vào chén dầu rồi bỏ lên chảo rán đến cháy dòn. Tôi chọn gốc mận to nhất, tán lá rộng nhất để dựng “con ngựa sắt”. Phương chống xe kế bên. Như từ yên sau nhảy phóc một cái xuống đất, kéo cái nón kết đỏ chói trên đầu xuống quơ lấy quơ để “cái xứ sở gì bụi bặm nắng nôi…” – Nó cằn nhằn bâng quơ.

Chưa đến mười hai giờ mà đã hết chỗ ngồi, ba đứa tôi phải chịu khó đi lên mấy bậc tam cấp ngồi ở bàn cao nhất của quán. Nói “quán” cho sang, thật ra chỗ bán bún bò chỉ có một cái xe nước lèo, còn khoảng chục bộ bàn ghế nhôm thì để rải rác dọc bờ tường con hẻm, nhờ bóng mát của mấy cây mận để khách ngồi tránh nắng. Mấy hôm đông khách, bà chủ nhà đối diện cho nhờ cái hàng hiên để kê đỡ thêm một bộ bàn ghế nữa. Có điều thềm nhà này xây cao, phải đi lên bậc tam cấp, thành ra cái bàn dự bị này trở thành điểm trung tâm của “quán”. Như ghét ngồi chỗ này lắm, nó nói giống như ngồi trên sân khấu ăn uống sì sụp, người ta ai cũng nhìn lên, mắc cỡ muốn chết. Cái chỗ dã chiến vậy mà làm ăn khá thật. Hơn mười giờ dọn hàng ra thì chưa đến một giờ trưa đã hết sạch. Bún bò Huế ở Sài Gòn cũng lắm tiệm sang trọng, nổi tiếng, nhưng cái khoản thịt bò vừa mềm, vừa mặn mà như ở đây thì chưa tiệm nào sánh được. Có lần mấy đứa tôi đến trễ, vừa bán hết, Phương ức lắm, nó hỏi bà chủ sao không đầu tư mở tiệm rộng thêm, có quán xá đàng hoàng đông khách để tăng thu nhập, bà cười hề hề “tui già rồi cậu ơi, tụi nhỏ có gia đình ra riêng hết rồi, có đứa cháu phụ giúp tí buổi trưa, chiều còn phải đi học. Thôi thì kiếm chút đỉnh đủ sống là mừng rồi, sức khỏe không còn bao nhiêu, đầu tư đầu tám gì, tiền bạc có mấy đâu”. Phương nói chơi “hay là con hùn vốn với bác nghe, con cho bác vay, lãi suất thấp thôi” – Bà chủ nhỏ nhẻ “cậu nói cho vui, tui tiền bạc chi mà hùn” – Phương nhìn tôi nháy mắt “Có sao đâu bác, bác còn con gái hay cháu gái nào nấu bún bò Huế ngon như bác vậy gả cho con trừ nợ”. Như đưa mắt lườm một cái rõ sắc “Phương nhớ đó, ăn bún thay cơm luôn đi nghe” – Thằng nhỏ “nịnh đầm”, nhìn tôi cười cầu cứu “nói chơi chứ bún bò làm sao mà ngon hơn canh chua cá lóc của Như được, chị Thùy há”. Bà chủ quán lắc đầu “thôi mấy cô cậu ngồi vô bàn đi, cũng ba tô nạc gân như mọi ngày với ba ly trà đá hỉ?”
Mấy tô bún vừa bưng ra, Phương nhìn tôi rồi đưa mắt nhìn sang dãy bàn bên cạnh. Lọt thỏm giữa dãy bàn nhôm lênh khênh, một đứa nhỏ khoảng chín, mười tuổi bế trên tay một em bé còi cọc độ non một tuổi, tay cầm cái ca nhựa màu trắng sờn cũ đã ngả vàng ố. Nó lê cái thân gầy nhom cộng thêm một sinh mạng còi cọc đi qua từng thực khách, chìa cái ca nhựa thay lời van vỉ dường như đã đặc lại vì khô hơi khản giọng. Rất ít người để tâm đến cái cảnh quá đỗi quen thuộc này. Hóa ra, một bi kịch nếu lặp đi lặp lại nhiều lần thì nó cũng chẳng hơn gì một tấn trò tẻ nhạt. Con bé đi đến bàn chúng tôi đang ngồi, đến đây thì dường như nó đã quá mỏi mệt, ngồi phệt luôn xuống bậc thềm. “Chắc nó đói lắm”, Phương nói. “Hay kêu cho nó một tô bún”, tôi hỏi Như. Như lắc đầu quầy quậy “Chị đừng để bị tụi ranh con này lừa đó nha, tụi nó có má mì quản lý đó, hàng ngày phải nộp tiền cho bả, bả cho ăn cho uống, phân công đứa nào đi xin ở khu vực nào … Là có tổ chức hết, không phải tự tụi nó ăn xin đâu” “Thì mình không cho tiền, cho nó ăn chút đỡ đói thôi mà” “Cho nó ăn vài ngàn không phải mình tiếc, nhưng tụi nó ghê gớm lắm, ăn đã đời rồi về nhà thế nào cũng kể rằng đã lừa được mấy tên ngu ngốc nhẹ dạ… Thôi, em thà mang tiếng xấu còn hơn bị cười vào mũi”. Con bé bắt đầu ngủ gật, đứa nhỏ trên tay nó thì đã thiếp từ lâu. Nó dựa sát vào cột xi măng cạnh bậc tam cấp, một tay vẫn ôm chặt đứa nhỏ, tay kia móc vào tay cầm của cái ca nhựa. Đôi chân đen đúa lấm lem của nó buông thỏng lơ lửng, chiếc dép màu gỗ mòn đến sát đất rơi xuống tự lúc nào. Thỉnh thoảng ngủ mê, tay nó lơi lỏng, đầu của đứa nhỏ va vào cột xi măng, nó giật mình ré lên một thứ âm thanh khào đục lấy lệ rồi lại thiếp đi. Con bé vẫn mãi ngủ, nhưng cánh tay siết chặt hơn một cách vô thức. Cứ như vậy, một đứa bé và một đứa bé hơn, cả hai đều bẩn thỉu, kiệt quệ, vừa ngủ gật vừa cựa quậy hoặc phát ra âm thanh trong vô thức… Như kêu thêm một chén gân bò, hơn hai mươi, vẫn còn tuổi háu ăn! Nó ăn ngon lành vừa cằn nhằn cái nóng của trời tháng tư… Không biết bà chủ hôm nay có phải ướp thịt hơi vội hay không, miếng thịt không mặn mà như mọi khi mà lại nhạt thếch trong miệng làm tôi buồn nôn.
… Năm giờ ba mươi, thứ sáu, ngẩng đầu nhìn lên công ty chỉ còn có hai đứa tôi. Như rút cái gương bé tẹo trong túi ra xăm soi mái tóc tém nghịch ngợm và trẻ trung, vuốt vuốt một sợi thừa thãi cố tình buông lững lờ bên má. “Điệu quá, có hẹn hả?” Tôi trêu nó “à há”, nó ậm ừ, “weekend mà chị”. “Không phải tối nay Phương nó dạy kèm à?” “Em đâu có hẹn với Phương” “hả?”. Như ném cái gương vào túi, nửa đứng nửa ngồi tựa vào cạnh bàn “em hẹn với Chaiwat” “Thằng cha Thái Lan đen thui?” “Dạ phải, anh chàng cũng dễ thương lắm, lúc này học bập bẹ được tí tiếng Việt. Hôm qua đi ăn phở, hắn ta nói với bà chủ quán là “em ơi tính tiền”, haha… Bà chủ quán hơn sáu chục tuổi rồi. Em bảo rằng phải nói “bác ơi”, nói tới nói lui một lúc lại nhầm, lát sau hắn nhìn em một hồi rồi nói “hôm nay bác đẹp lắm”, thật là nhịn cười không nổi”… Tụi tôi đi bộ một quãng đến bãi xe. Trời đã nhá nhem, loáng thoáng nhập nhoạng giữa ánh đèn đường xanh đỏ và chút ánh sáng còn phơn phớt trên bầu trời xám đen đang chuyển dần sang màu thẫm hơn, những bóng xe loang loáng lướt qua, vội vã chuẩn bị một buổi tối cuối tuần. “Vậy còn Phương thì sao?”, tôi hỏi Như “Thì Phương làm việc của Phương, tụi em chỉ là bạn bè thôi mà, em không có ràng buộc mà cũng chẳng có hứa hẹn gì” “Em thích Chaiwat hơn?” “Cũng không hẳn, đi với ai em cũng thấy vui, mỗi người vui một cách… Em thật sự không nghĩ đến chuyện xa xôi đâu chị”. Tôi thở dài, tự nhiên thấy cái đuôi tóc của nó ngắn quá “Vậy là chưa yêu” “Phải rồi, em chưa,… và mong là sẽ chẳng bao giờ”… “Bye chị nha”, Như rồ ga, chiếc wave đỏ chói chang nổ êm ái, tích tắc đã lẫn vào dòng người vội vã, để lại một lớp khói trắng nhờ nhờ hăng hắc mùi xăng.
Tháng sáu, Như nhận được visa du học ở Sydney. Sân bay mờ sớm lất phất mưa. Khung cảnh tiễn đưa bao giờ cũng vậy, lưu luyến, bịn rịn và đầy nước mắt. Tháng trước tôi cũng ra sân bay, nhưng không đến cổng này để đưa tiễn mà đến cổng đợi đón anh chị tôi từ Mỹ về thăm nhà. Hai cổng cách nhau độ mươi mét, một bên là nụ cười và một bên là nước mắt. Anh chị tôi về chuyến bay mười hai giờ khuya, đường từ nhà đến sân bay vắng ngắt, thành phố đã đi ngủ, nhưng cùng lúc đó ở nơi đây - một góc nhỏ của sân bay – đang lao xao một cuộc sống khác, không có giấc ngủ, chỉ có hội ngộ và chia ly. Mấy phút còn lại trước khi vào phòng cân hành lý, Như ôm ba mẹ nó khóc như mưa. Tôi và Phương đứng một góc nhìn nó, thấy thương. Rồi nó chạy lại nắm chặt tay hai đứa tôi, đôi mắt đầy nước sưng đỏ. Phương đẩy giúp cho nó cái vali to nhất đến tận cổng vào khu cân hành lý rồi chuyển xe đẩy hành lý sang cho Như. Như nhỏ bé quá, tôi chỉ kịp thấy cái đuôi tóc tém của nó thấp thoáng vài giây rồi mất hút… Chúng tôi ra bãi lấy xe, chẳng ai nói với ai tiếng nào. Trên đường về, trời vẫn còn lất phất mưa. Tôi nhớ có người bảo rằng phụ nữ khóc nhiều thường chóng quên và dễ phản bội… “Giờ này chắc Như vẫn chưa lên máy bay” – Phương nói trước khi rẽ sang ngã khác để đến công ty.
Hai ngày sau, tôi đã nhận được email đầu tiên của Như “… Tháng này ở đây vẫn là mùa Đông. Lạnh và buồn lắm. Thức ăn ở đây khó ăn quá, chắc vài hôm nữa em phải tập nấu ăn. Buổi tối em chẳng ngủ được, phần vì chênh lệch múi giờ, phần vì nhớ nhà. Em nhớ công ty, nhớ tiếng fax chạy e e đến nhức cả đầu. Em nhớ chị và Phương nhiều lắm.” Như cũng siêng viết, cứ một hai ngày nó email một lần. Hơn hai tuần sau, chắc bận rộn, nó email thưa hơn. Ba tháng sau, trong một email gửi cho tôi, nó viết “… Em vẫn nhớ Sài Gòn lắm nhưng cũng đã quen dần với cuộc sống ở đây. Em ở chung phòng trọ với hai đứa bạn Việt Nam. Một đứa cũng là dân Sài Gòn và một đứa quê ở Cần Thơ. Tụi nó cũng dễ thương lắm chị. Hôm nay thèm bún bò, em nấu thử nhưng dở quá, không làm sao bằng quán cây mận mình vẫn thường ăn. Phương còn đòi làm cháu rể bà chủ quán nữa không chị?…” Rồi sau đó cả tháng nó mới viết một lần… Một năm sau, nó email cho tôi “… Em đã quen cuộc sống ở đây rồi chị à. Nhớ nhà thì vẫn nhớ nhưng không còn buồn quay quắt và một hai đòi về như trước nữa. Năm nay chưa thu xếp được, có thể Noel năm sau em sẽ về thăm mọi người. À, em cho chị biết một tin vui. Em có một anh bạn người Uùc dễ thương lắm, tên anh ấy là Peter. Nhưng tụi em chưa tính gì đâu, chị đừng suy diễn đó nha. Có lẽ năm sau Peter sẽ về thăm nhà cùng em. Mình dắt anh ấy đi ăn bún bò cây mận nha chị…”
Chiều thứ bảy, Phương rủ tôi ăn bún bò. “Lát nữa em ghé tiệm áo len” “ bây giờ mới tháng sáu mà mua áo len làm chi” “Em định gửi cho Như, nhớ giờ này năm trước Như mới qua đó email về nói rằng bên đó lạnh lắm”… Một con nhỏ cầm ca nhựa, tay xốc một đứa bé độ vài tháng tuổi… Tôi nhớ đứa nhỏ lần trước ngủ gật trên bậc thềm, lâu nay không thấy nó, không hiểu sống chết ra sao. Phương vẫy con nhỏ lại, kéo ghế cho nó ngồi và kêu cho nó một tô bún không cay. Con nhỏ hì hục ăn, mặc cho ruồi bâu vào đứa bé trên tay nó. Con nhỏ mới tí tuổi, chắc nó về sẽ không cười nhạo hai đứa tôi đã dại dột cho nó chút lòng trắc ẩn như lời Như nói.
… Buổi tối vừa bước chân ra khỏi phòng trà đã thấy ngập hơi nóng hầm hập oi bức của tiết trời chuyển mưa. “Có cần đưa về không?” Lâm hỏi “Không cần đâu, cảm ơn nhiều.” “Không sợ bị bắt cóc hả?” “Không ai thèm bắt cóc bà già như em đâu” – Tôi đùa. Tôi kêu taxi, ông tài xế lớn tuổi vừa đưa tay che miệng ngáp vừa hỏi “Về đâu cháu” – Tôi nói địa chỉ nhà rồi kéo cửa sập lại. Cái mùi hăng hăng trên xe thật khó chịu. Tiếng xe rù rù nghe buồn quá… Tôi nhớ bài hát vừa nghe ở phòng trà “Làm người ở lại có bao giờ vui. Khi tình nhân không còn đứng chung đôi. Làm người ở lại bao giờ cũng buồn. Khi nụ quỳnh hương không còn ngát hương…” Không biết giờ này Như đang làm gì, nói chuyện tào lao với mấy đứa bạn cùng phòng? Làm bài tập? Cũng có thể nó đang đi chơi với cậu Peter nào đó. Hay là ngày mai tôi nói với Phương, bảo nó đừng mua áo len nữa…
04/2002
truyen ngan
lamtruyen.com
Bản quyền thuộc về © lamtruyen.com